Khóa luận Thực trạng ô nhiễm môi trường và giải pháp xử lý vải vụn trong hoạt động may mặc ở xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

MỞ ĐẦU. 1

1. Lý do chọn đề tài. 1

2. Mục đích của đề tài . 2

3. Nội dung của đề tài . 2

4. Phạm vi nghiên cứu. 2

5. Đối tượng nghiên cứu . 2

6. Phương pháp nghiên cứu. 2

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài . 3

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ VẢI SỢI VÀ NGÀNH DỆT MAY. 4

1.1. Giới thiệu về vải sợi. 4

1.1.1. Định nghĩa về vải sợi . 4

1.1.2. Phân loại và tính chất vải sợi . 5

1.1.2.1. Vải sợi có nguồn gốc tự nhiên . 5

1.1.2.2. Vải sợi hóa học. 7

1.2. Vòng đời của một sản phẩm vải sợi. 9

1.3. Công đoạn sản xuất và chế biến vải. 11

1.4. Giới thiệu về ngành dệt may Việt Nam . 12

1.5. Giới thiệu về ngành dệt may của tỉnh Nam Định . 15

1.6. Tổng quan về chất thải ngành may . 18

pdf52 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 14/02/2022 | Lượt xem: 327 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Thực trạng ô nhiễm môi trường và giải pháp xử lý vải vụn trong hoạt động may mặc ở xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
o quản và sử dụng mà vải sợi có tuổi thọ cao hay thấp. Vì thế trong quá trình sử dụng vải sợi, người dùng nên có các kiến thức về bảo vệ vải sợi cũng đồng thời là một cách tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. - Thải bỏ Vải sợi sau khi hết khả năng sử dụng sẽ bị thải bỏ. Trước khi đưa đến bãi chôn lấp cần có sự phân loại vải vụn cho mục đích sử dụng và tái chế. Đối với vải sợi bị hư hỏng, mài mòn nên có các công tác đánh giá thích hợp cho khả năng tái chế của chúng. Nếu mức độ hư hại của vải sợi thấp hoặc cần phải thu hồi các thành phần có giá trị trong vải sợi thì cần tái chế vải sợi. 11 Có các loại vải sợi nên được đốt để lấy năng lượng hoặc chôn lấp tại các bãi chôp lấp. Tuy nhiên, vấn đề đốt chất thải đặc biệt là các loại vải sợi cần thiết phải chú ý vì trong quá trình đốt vải sợi dễ dàng sinh các chất độc hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường. Nếu chọn giải pháp là chôn lấp thì cần có các quy trình tiền xử lý nhằm làm giảm ảnh hưởng của vải vụn đến môi trường trước khi đem chôn lấp. 1.3. Công đoạn sản xuất và chế biến vải Nguyên lý sản xuất vải được dùng phổ biến và lâu đời nhất đó là liên kết các sợi hay các hệ sợi lại với nhau. “Hình thành vải bằng nguyên lý dệt thoi cho phép tạo ra được sản phẩm dạng này với độ che phủ lớn, ít tốn nguyên vật liệu và có nhiều tính năng sử dụng nổi trội” [3]. Quy trình gia công này tương đối là phức tạp và có năng suất thấp. Ngày nay có rất nhiều nguyên lý hình thành vải được phát minh và áp dụng vào sản xuất nhưng nguyên lý này vẫn còn được sử dụng rộng rãi và phổ biến. Bằng cách dùng kim móc người ta cũng tạo ra được tấm vải từ một sợi nhỏ. Sản phẩm này có cấu trúc là tập hợp các vòng sợi liên kết với nhau nên chính vì thế chúng có độ xốp và độ co giãn lớn. Đây cũng là nguyên lý dệt kim từ thời xa xưa nhưng chúng được phát triển mạnh mẽ khi ngành chế tạo máy và vật liệu học đạt đến trình độ cao từ nửa sau thế kỷ XX. Công nghệ sản xuất vải dệt kim cùng với sự ra đời của các thiết bị đã cho ra đời nhiều mặt hàng phong phú, da đạng không chỉ ở vải tấm mà còn ở cả các sản phẩm định hình thuận tiện và đáp ứng cho nhu cầu người dùng. Để hình thành vải ngoài hai phương pháp truyền thống trên thì người ta còn sử dụng các phương pháp như tạo màng, liên kết đệm xơ bằng cài dính, dán keo hay may thêu và phương pháp này được gọi là phương pháp không 12 dệt. Vải không dệt tuy chưa được dùng nhiều trong quần áo nhưng chúng là một trong những phụ liệu quan trọng của ngành may. Trong dây chuyền sản xuất dệt may, gia công vải có đặc trưng cơ bản là thay đổi cấu trúc nguyên liệu từ dạng đường qua dạng mặt chính vì thế mà các tính chất hóa lý của xơ sợi không gây ảnh hưởng nhiều đến các quá trình này. Vải là nguyên liệu chính của ngành dệt may và thời trang nên tính thẩm mỹ luôn được đề cao. Vải mới được hình thành từ xơ sợi được gọi là vải mộc, chưa thích hợp cho việc may mặc sẽ qua quá trình gia công nhằm cải thiện một số tính chất để có thể sử dụng. Vải mộc sẽ được ngâm, nấu tẩy, xử lý hóa chất để loại bỏ các tạp chất, chất bẩn, tăng cường tính thẩm thấu, làm trắng sơ bộ sau đó mới đến nhuộm màu. Tùy vào mục đích sử dụng mà người ta có thể tiến hành thêm vài quá trình như in hoa, làm mềm, làm bóng, tráng phủ, căng định hình, giặt mài 1.4. Giới thiệu về ngành dệt may Việt Nam Ngành dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua luôn là một trong những ngành chủ lực của nền kinh tế Việt Nam. Với sự phát triển của công nghệ kĩ thuật, đội ngũ lao động có tay nghề ngày càng chiếm tỷ lệ lớn, sự ưu đãi từ các chính sách của nhà nước, ngành dệt may đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, vừa tạo ra giá trị hàng hóa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, vừa góp phần giải quyết nhu cầu lớn việc làm cho người lao động phổ thông, đóng góp nhiều cho ngân sách quốc gia, thúc đẩy kinh tế phát triển. Trong những năm gần đây ngành công nghiệp dệt may đã có những bước phát triển vượt bậc. “Tốc độc tăng trưởng bình quân của ngành đạt khoảng 30%/năm, trong lĩnh vực xuất khẩu tốc độ tăng trường bình quân 24,8%/năm và chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước” [3]. Sản 13 phẩm dệt may của Việt Nam đã thiết lập được vị thế của mình trên nhiều thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản - Về xuất khẩu Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan., “ Trong 11 tháng đầu năm 2017 xuất khẩu nhóm hàng dệt và may mặc của Việt Nam đạt 28,84 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2016 – đây là mức tăng trưởng khá so với mức tăng 5,2% của cùng kỳ năm 2016. Như vây, ngành dệt may đã hoàn thành 94% kế hoạch xuất khẩu – cao hơn so với mức thực hiện 85,5% của cùng kỳ năm 2016” [3]. Xuất khẩu nhóm hàng xơ, sợi dệt đạt 1,23 triệu tấn, tương đương 3,27 tỷ USD, tăng 15,7% về lượng và tăng 22,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016, hoàn thành được 96% kế hoạch cả năm 2017 (năm 2016 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch là 93,8%). Xuất khẩu nguyên phụ liệu ngành dệt may đạt 1,57 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ hoàn thành 100,3% so với kế hoạch đề ra. Xuất khẩu vải mảnh, vải kỹ thuật đạt 421,3 triệu USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ, hoàn thành 97% kế hoạch năm 2017. 14 Bảng 1. 1: Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2011-2018 (Đơn vị: Tỷ USD) Năm Giá trị xuất khẩu 2011 15,831 2012 17,018 2013 21,092 2014 24,692 2015 27,5 2016 28,3 2017 31 Ước 2018 33,5 (Nguồn: Tổng cục Hải quan) - Về nhập khẩu Năm 2017, “Nhập khẩu bông đạt 1,19 triệu tấn trị giá 2,17 tỷ USD tăng 24,9% về lượng và tăng 43% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Nhập khẩu xơ sợi đạt 0,8 triệu tấn, trị giá 1,64 tỷ USD, tăng 1,8% về lượng và tăng 12,5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Nhập khẩu vải ước đạt 10, 35 tỷ USD, tăng 8,5% so với cùng kỳ. Nhập khẩu nguyên liệu phụ liệu dệt may ước đạt trên 5 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ” [6]. Năm 2017 thặng dư thương mại của ngành dệt may đạt giá trị cao nhất từ trước đến nay. 15 Cả năm 2017, xuất khẩu toàn ngành dệt may đạt 31 tỷ USD tăng 10% so với con số 28,3 tỷ USD của năm 2016; trong khi nhập khẩu nguyên phụ liệu của dệt may đạt 19 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2016. Nếu trừ đi lượng nguyên phụ liệu nhập khẩu phục vụ làm hàng nội địa thì thặng dư thương mại đạt 15,5 tỷ USD – mức cao nhất từ trước tời giờ. Đây là một sự tăng trưởng kỳ tích của ngành dệt may. Trong quý II năm 2017 xuất khẩu dệt may gặp nhiều thách thức khó khăn sau khi Mỹ rút khỏi TPP. Tuy nhiên khi CPTPP có hiệu lực thì tới cuối năm, giá trị thặng dư thương mại của dệt may Việt Nam lại đạt mức kỷ lục, đứng đầu trong các ngành hàng xuất khẩu và còn tiếp tục được kỳ vọng trong các năm tiếp theo. Trái với những dự báo về khả năng sụt giảm xuất khẩu sang thị trường Mỹ bởi Mỹ đã rút lui khỏi Hiệp định TPP thì những đơn hàng sang Mỹ vẫn được ký đều đặn. Cho đến nay thì Mỹ vẫn luôn là thị trường xuất khẩu dệt may đứng đầu của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 48,3% đạt kim ngạch 12,53 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm 2016. Năm 2017 cũng là năm đánh dấu mốc quan trọng của ngành dệt may Việt Nam khi lần đầu tiên xuất khẩu sản phẩm may mặc của nước ta sang thị trường Trung Quốc đạt giá trị 1 tỷ USD. Điều này cho thấy được rằng các doanh nghiệp dệt may Việt Nam luôn nỗ lực tìm kiếm những thị trường mới, có nhiều tiềm năng bên cạnh các thị trường truyền thống như ASEAN, Đông Âu 1.5. Giới thiệu về ngành dệt may của tỉnh Nam Định Tỉnh Nam Định nằm ở trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng, có tiềm năng lợi thế rất lớn cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là lợi thế về nguồn nhân lực trẻ dồi dào, được đào tạo cơ bản, có chất lượng cao. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông được đầu tư khá đồng bộ, rút ngắn 16 khoảng cách và thời gian đi đến thủ đô Hà Nội cũng như cảng biển quốc tế Hải Phòng. Hạ tầng điện lực có công suất nằm trong Top đầu của cả nước, luôn sẵn sàng đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong địa bàn tỉnh. Vùng kinh tế biển của tỉnh rất giàu tiềm năng về phát triển công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ và hạ tầng đô thị. Với những lợi thế đó, tỉnh Nam Định đã đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp đặc biệt là ngành dệt may – một trong những ngành kinh tế mang lại lợi ích kinh tế cao, góp phần vào thu nhập GDP của toàn tỉnh. Trong những năm qua Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, cơ chế, chính sách, huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng cho công nghiệp; do đó sản xuất công nghiệp nói chung và ngành dệt may nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng và tăng trưởng khá cao. Trong sản xuất công nghiệp của tỉnh, ngành dệt may đã khẳng định vai trò, ví trí đặc biệt quan trọng, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao (giai đoạn 2008 – 2013: giá trị sản xuất tăng bình quân 22,3%/năm). Năm 2017 là năm ngành dệt may gặp nhiều khó khăn, thách thức, tăng trưởng vẫn đạt 13,23%, góp phần quyết định tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp. Trong những năm tới, ngành công nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh sẽ đối mặt với những thách thức để phát triển đó là: nhu cầu đòi hỏi và cạnh tranh sản phẩm ngày càng gay gắt; yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm; tìm lối đi cho sản phẩm với thị trường trong và ngoài nước; phát triển ngành với các biện pháp đi đôi với bảo vệ môi trường, công nghiệp xanh. Những thách thức đó sẽ cản trở phát triển nếu không được quan tâm thỏa đáng. Mặc dù vậy, ngành công nghiệp dệt may của tỉnh là ngành kinh tế mũi nhọn có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển: nguồn nhân công dồi dào, kinh nghiệm, cần 17 cù, chịu khó; cơ sở giao thông kết cấu hạ tầng thuận lợi cho sự đi lại và phát triển Xuất phát từ yêu cầu khách quan và nội quan của ngành dệt may, để thực hiện có hiệu quả Quyết định số 36/2008/QĐ –TTG của Thủ tướng chính phủ “Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” đó là: Phát triển ngành dệt may theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm. Tạo điều kiện cho ngành dệt may Việt Nam tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững và hiệu quả. Khắc phục những điểm yếu của ngành dệt may là thương hiệu của các doanh nghiệp còn yếu, mẫu mã thời trang chưa được quan tâm, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, cung cấp nguyên phụ liệu vừa thiếu, vừa không kịp thời. Lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành, mở rộng thị trường xuất khẩu, đồng thời phát triển tối đa thị trường nội địa. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng của các sản phẩm trong ngành. Phát triển ngành dệt may phải gắn với bảo vệ môi trường và xu thế chuyển dịch lao động nông nghiệp nông thôn. Di chuyển các cơ sở gây ô nhiễm môi trường vào các khu, cụm công nhiệp tập trung để tạo điều kiện xử lý môi trường. Chuyển các doanh nghiệp dệt may sử dụng nhiều lao động về các vùng nông thôn, đồng thời phát triển thị trường thời trang dệt may Việt Nam tại các đô thị và thành phố lớn. Đa dạng hóa sở hữu và loại hình doanh nghiệp trong ngành dệt may, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển dệt may Việt Nam. Trong đó chú trọng kêu gọi những nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào những lĩnh vực mà các nhà đầu tư trong nước còn yếu và thiếu kinh nghiệm. 18 Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho sự phát triển bền vững của ngành dệt may Việt Nam; trong đó chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề nhằm tạo ra đội ngũ doanh nhân giỏi, cán bộ, công nhân lành nghề chuyên sâu. 1.6. Tổng quan về chất thải ngành may Ngành công nghiệp dệt may từ lâu đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế cũng như phục vụ đời sống của con người. Khi ngành công nghiệp dệt may càng được cải tiến với những kỹ thuật hiện đại thì môi trường lại càng bị tác động nghiêm trọng. Các sản phẩm càng bắt mắt và đa dạng thì những chất thải từ ngành công nghiệp này càng nguy hại và có tác động không lường đến hệ sinh thái. Những chất thải ngành dệt may đang trở thành một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống. Hoạt động sản xuất của ngành dệt may bao gồm nhiều công đoạn. Từ phát triển nguồn nguyên liệu cho tới kéo sợi, dệt vải, nhuộm hoàn tất, may và tiêu thụ sản phẩm. Tùy thuộc vào đặc thù của từng công đoạn sản xuất mà phát sinh ra nhiều dạng ô nhiễm như: bụi, tiếng ồn, nhiệt dư, chất thải rắn, khí thải và nước thải. 19 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT THẢI VẢI VỤN PHÁT SINH TỪ NGÀNH DỆT MAY TẠI XÃ MỸ THẮNG 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Nam Định (Nguồn: Internet) 20 2.1.1. Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Mỹ Thắng là một xã thuộc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, Việt Nam. - Xã Mỹ Thắng có diện tích 7,47 km², dân số năm 2017 là 8984 người, mật độ dân số đạt 1202 người/km². - Bắc giáp xã Mỹ Hà (huyện Mỹ Lộc) và xã Mỹ Tiến (huyện Mỹ Lộc) - Đông giáp xã Mỹ Phúc (huyện Mỹ Lộc) và xã Tiến Thắng (huyện Lý Nhân, Hà Nam) qua sông Châu Giang - Nam giáp xã Lộc Hòa (thành phố Nam Định) - Tây giáp xã Mỹ Phúc (huyện Mỹ Lộc) Xã Mỹ Thắng được chia thành 14 xóm, bao gồm: Bườn 1, Bườn 2, Bườn 3, Mai, Mỹ, 7, 8, 9, 10, Kim, Thát Đoài, Thát Đông, Nội, Thịnh. Với vị trí địa lý thuận lợi, xã Mỹ Thắng nằm trên trục tuyến đường 63B và cạnh tuyến đường 21B - Hà Nội - Phủ Lý rất thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với các tỉnh và địa phương khác. 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội Trước đây xã Mỹ Thắng vốn là một xã nông nghiệp, với địa hình bằng phẳng, khí hậu thuận lợi cho việc phục vụ sản xuất cho địa phương. Song do nhu cầu phát triển của xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã đã có các bước đột phá trong việc phát triển kinh tế của địa phương với các mô hình sản xuất quy mô hộ gia đình, dần dần phát triển thành các xí nghiệp tư nhân. Bước đầu việc tiếp cận thị trường của các xí nghiệp trên địa bàn xã còn nhiều khó khăn, việc cạnh tranh về các mặt hàng mẫu mã sản phẩm gặp nhiều bất cập do nhu cầu cao của thị trường. Nắm bắt được thị hiếu về nhu cầu may mặc của người dân trong và ngoài tỉnh cũng như nhu cầu xuất khẩu sang nước 21 bạn, các xí nghiệp trên địa bàn xã đã đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất, cho ra đời các mặt hàng phù hợp với nhu cầu của người mặc và phù với với khả năng thu nhập của họ. Hiện nay các xí nghiệp may mặc trên địa bàn xã đã phát triển cả về quy mô số lượng và chất lượng góp phần vào phát triển kinh tế của địa phương và toàn ngành. Xã Mỹ Thắng có mạng lưới giao thông đường bộ tương đối hoàn chỉnh, trên 80% chiều dài đường đã được cứng hóa. Quan trọng nhất là có tuyến quốc lộ 21B, 10 chạy qua nên rất thuận lợi cho việc lưu thông vận chuyển hàng hóa. Xã cũng đã thực hiện việc dồn điền đổi thửa xong vào năm 2014. Hiện nay, xã đang hoàn thiện các thủ tục hoàn thành việc đạt chuẩn nông thôn mới. Nền giáo dục của xã cũng tương đối phát triển và hoàn thiện. Xã Mỹ Thắng đã phổ cấp giáo dục Tiểu học vào năm 1996 và Trung học Cơ sở vào năm 2002. Chất lượng giáo dục đặc biệt là chất lượng giáo dục văn hóa xếp loại cao trong cả tỉnh. Các cơ sở khám chữa bệnh ở xã được trang bị cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo chính quy, đáp ứng cơ bản nhu cầu khám chữa bệnh thông thường của người dân. Các chính sách xã hội đối với người có công, người nghèo, vấn đề xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm được các cấp chính quyền tổ chức nghiêm túc, sáng tạo, đa dạng, góp phần ổn định xã hội. Với tiềm năng kinh tế - xã hội thuận lợi, xã Mỹ Thắng chắc chắn có các bước tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa. 2.2. Giới thiệu về tình hình ngành dệt may của xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Nghề may ở xã Mỹ Thắng đã có hơn 50 năm. Ban đầu, bà con trong xã chủ yếu làm chăn ga, gối, đệm nhưng hiện nay sản phẩm may phong phú đa dạng hơn. Nếu như trước đây chỉ có vài chục hộ làm nghề may thì nay đã tăng 22 lên hàng trăm hộ với hơn 3000 lao động đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương và giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn xã và các xã lân cận. Thu nhập từ nghề may chiếm phần lớn trong cơ cấu GDP của toàn xã. Các sản phẩm làm ra tiêu thụ khắp các tỉnh trong cả nước và xuất sang Trung Quốc, Lào, Campuchia. Do nhu cầu ngày càng cao của thị trường và sự cạnh tranh gay gắt của nhiều sản phẩm thời trang trong và ngoài nước, làng nghề may Mỹ Thắng cũng nỗ lực đổi mới, nâng cấp trang thiết bị máy móc và chủ động hội nhập. Hình thức sản xuất nhỏ lẻ theo từng hộ gia đình bằng máy móc thủ công dần được thay bằng những mô hình sản xuất quy mô lớn với những xưởng may bằng dây chuyển máy móc công nghiệp hiện đại. Nhiều gia đình thành lập doanh nghiệp, đầu tư hàng tỷ đồng xây dựng nhà xưởng, máy móc và đào tạo lao động. Theo kết quả thống kê cho thấy, làng dệt may xã Mỹ Thắng chuyên sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm may mặc như: - Khăn bông, khăn mặt, khăn tắm, áo choàng tắm, in hoa, thêu, cắt vòng phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. - May mặc: chủ yếu là sản xuất gia công như: quần áo thun, quần áo sơ mi, quần áo thể thao, quần áo bảo hộ lao động, quần áo trẻ em, quần áo các mùa - Chăn, ga, gối, đệm, thảm, gấu bông 2.2.1. Thực trạng về việc phát sinh vải vụn tại làng dệt may xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Ngành dệt may hiện nay đang phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội mà ngành dệt may mang lại thì trong quy trình sản xuất, các xưởng may còn thải ra một lượng lớn CTRCN với thành phần chủ yếu là vải vụn. 23 Cùng với tốc độ phát triển của kinh tế xã hội, đặc biệt là ngành dệt may, làng nghề xã Mỹ Thắng hiện đã có 1200 hộ gia đình làm nghề dệt may trong đó có hơn 20 doanh nghiệp với quy mô lớn với tổng sản lượng hơn 2000 tấn sản phẩm/năm, không chỉ đáp ứng nhu cầu mặc của người dân địa phương mà còn xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Bảng 2. 1: Tình hình dân số và số hộ làm may ở xã Mỹ Thắng STT Xóm Tổng số hộ Số hộ làm may 1 Bườn 1 138 52 2 Bườn 2 202 38 3 Bườn 3 112 21 4 Xóm Mai 168 63 5 Xóm Mỹ 187 75 6 Xóm 7 262 147 7 Xóm 8 220 162 8 Xóm 9 306 184 9 Xóm 10 185 93 10 Xóm Kim 177 67 11 Thát Đoài 110 62 12 Thát Đông 98 35 13 Nội 107 59 14 Thôn Thịnh 218 142 Tổng số 2490 1200 ( Nguồn: Báo cáo địa phương năm 2017) Tuy nhiên, hàng năm các doanh nghiệp và hộ kinh doanh này thải ra một lượng lớn vải vụn và chưa có hình thức nào xử lý ngoài việc đem đi tập kết tại các bãi chôn lấp và đốt. Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng 24 tới môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của người dân, ô nhiễm môi trường đất, không khí và nước. Với dây chuyền công nghệ hiện đại, nguyên liệu sản xuất chủ yếu là các loại vải, sợi và hóa chất được mua tại thị trường Việt Nam và nhập khẩu. Trong quá trình sản xuất thì chất thải rắn là dòng thải lớn nhất với lượng thải hàng chục tấn/năm, bao gồm các xơ sợi thải (có thể ở dạng tái sử dụng được hoặc không thể tái sử dụng), vật liệu đóng gói thải (giấy, plastic), mép cắt vải thừa, vải vụn, các loại kim bằng kim loại đã qua sử dụng Tất cả các sản phẩm trong quá trình sản xuất đã sản sinh ra một lượng lớn vải vụn. Lượng vải này được tích tụ tại các hộ kinh doanh, xí nghiệp sau đó sẽ mang đi ra ngoài các bãi rác, bờ sông, địa điểm tập kết tích tụ tại đó và đốt. Hình 2. 2: Thực trạng việc đốt vải vụn tại xã Mỹ Thắng 2.2.2. Hiện trạng môi trường tại các cơ sở, xí nghiệp sản xuất trên địa bàn xã Mỹ Thắng 2.2.2.1. Môi trường không khí Kết qủa quan trắc chất lượng môi trường không khí tại các cơ sở, xí nghiệp sản xuất dệt may trên địa bàn xã Mỹ Thắng được thể hiện ở bảng dưới. 25 Bảng 2.2: Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí tại các cơ sở sản xuất, xí nghiệp dệt may trên địa bàn xã Mỹ Thắng năm 2017 TT Các thông số Đơn vị CSSX, XN TCVN 5937-2005 5949-1998 1 Nhiệt độ oC 28,3 - 2 Tốc độ gió m/s 0,68 - 3 Độ ẩm % 70,6 - 4 Áp suất Pa 1004,6 - 5 SO2 mg/m 3 0,32 0,35 6 CO mg/m3 4,16 30 7 NOX mg/m 3 0,18 0,2 8 Bụi mg/m3 0,43 0,3 9 Tiếng ồn dBA 74,7 75 ( Nguồn: Báo cáo môi trường các khu công nghiệp trên địa bàn xã Mỹ Thắng năm 2017) Nhìn chung trong quá trình đi quan trắc và điều tra với các kết quả đo được trong bảng phân tích cho thấy hầu hết các chỉ tiêu môi trường vẫn chưa vượt quá mức cho phép. Tuy nhiên do đặc điểm là nằm trong khu dân cư nên các cơ sở sản xuất kinh doanh này đã gây ảnh hưởng quá nhiều đến đời sống và môi trường của người dân. 26 2.2.2.2. Môi trường nước Do đặc thù của ngành dệt may nên lượng nước mà các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn xã sử dụng chưa nhiều, các chỉ tiêu môi trường đo được ở đây vẫn đảm bảo được tiêu chuẩn cho phép. 2.2.2.3. Môi trường đất Hầu hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn xã nằm ở nhiều nơi, chưa có quy hoạch tập trung. Mặc dù địa phương cũng như tỉnh đã có quy hoạch nhưng do nhu cầu sản xuất cũng như điều kiện về xã hội mà các cơ sở này vẫn chưa được quy hoạch. Có nhiều cơ sở vẫn trong tình trạng công nghệ cũ chính vì vậy mà lượng chất thải của ngành dệt may đặc biệt là vải vụn thải trực tiếp ra môi trường ngày càng nhiều. Nếu không có các biện pháp kịp thời thì sẽ có hậu quả lâu dài về môi trường xung quanh cũng như môi trường sống của dân cư. 27 CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ Ô NHIỄM CỦA VIỆC PHÁT THẢI VẢI VỤN RA NGOÀI MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, XỬ LÝ PHÙ HỢP 3.1. Đánh giá mức độ ô nhiễm tới môi trường Hoạt động sản xuất của ngành dệt may bao gồm nhiều công đoạn, từ phát triển nguồn nguyên liệu cho tới các hoạt động may và hoàn thiện sản phẩm. Tùy thuộc vào từng giai đoạn sản xuất mà phát sinh ra nhiều dạng ô nhiễm. ❖ Tác động tới môi trường không khí - Quá trìnhvận chuyển nguyên liệu, sản phẩm từ hoạt động sản xuất và các hoạt động giao thông khác sẽ thải ra bụi, khí thải như SO2, NOx, CO, VOCs và tiếng ồn. - Các hoạt động sản xuất có liên quan đến ngành dệt nhuộm sẽ phát sinh ra nhiều loại khí thải chủ yếu là hơi dung môi, hơi axit - Bụi sinh ra trong quá trình dệt, đánh bóng - Ô nhiễm mùi hôi từ các khu vực xử lý nước thải. - Việc đốt vải vụn tại các bãi tập kết đã sản sinh ra một lượng khí CO2 lớn tác động lớn tới hiệu ứng nhà kính. - Ô nhiễm không khí do khí thải từ khu vực cháy máy phát điện dự phòng, từ khí thải lò hơi. Các loại khí thải này bao gồm các tác nhân gây ô nhiễm không khí như: tiếng ồn, nhiệt, bụi, NOx, SO2, CO, VOCs ❖ Tác động tới môi trường nước - Nước thải trong quá trình vắt nước, sấy, nhuộm, từ nhà máy xử lý rác thải Nước mưa chảy tràn trên toàn bộ mặt bằng khu vực dự án, nước mưa chảy tràn cuốn theo đất cát và các tạp chất rơi vãi trên mặt đất xuống nguồn nước. Mức độ ô nhiễm của nước thải của ngành công nghiệp dệt may còn phụ thuộc rất lớn vào loại, lượng hóa chất sử dụng, kết cấu mặt hàng sản xuất (tẩy 28 trắng, nhuộm, in hoa), tỷ lệ sử dụng sợi tổng hợp, loại hình công nghệ sản xuất, đặc tính máy móc sử dụng. Nước thải chứa tinh bột xả từ khâu làm sợi làm giảm nồng độ oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng đến quá trình hô hấp của các loài động thực vật thủy sinh. ❖ Tác động tới môi trường đất - Tác động đến môi trường đất từ khâu thu gom, vận chuyển và xử lý vải vụn được đánh giá ở mức độ cao là phải kể đến khâu chôn lấp tại các bãi rác. Do tính chất của các loại vải, trong thành phần còn chưa nhiều chất hóa học nên thời gian phân hủy rất lâu trong lòng đất khoảng vài chục năm, có chất đến hàng trăm năm. Các chất ô nhiễm có mặt trong lòng đất sẽ làm giảm chất lượng đất, đất bị ô nhiễm, hiệu quả canh tác, bạc màu và độ phì nhiêu kém. 3.2. Ảnh hưởng của các khí SO2, NOX, VOCs, CH4 tạo ra trong quá trình đốt vải vụn Bảng 3.1: Nồng độ các chất gây ô nhiễm Chất Nồng độ (mg/m3) SO2 3000 - 4000 NOX 1000 - 1500 VOCs 1200 - 1800 CH4 1000 - 1500 ( Nguồn: Báo cáo môi trường tại địa phương) 29 ❖ Khí SO2 SO2 là một khí không màu, nặng hơn không khí, là một chất gây ô nhiễm khá điển hình. SO2 có khả năng hòa tan trong nước cao hơn các khí khác nên dễ gây phản ứng với cơ quan hô hấp của con người và động vật, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của con người. SO2 là chất có tính kích thích ở nồng độ nhất định có thể gây co giật ở cơ trơn của khí quản, ở nồng độ lớn hơn sẽ gây tăng tiết dịch niêm mạc đường khí quản. Khí SO2 tiếp xúc với mắt, chúng tạo thành axit. SO2 có thể xâm nhập vào cơ quan hô hấp và cơ quan tiêu hóa của con người sau khi hòa tan được trong nước bọt để ngấm vào máu. Trong máu, SO2 tham gia nhiều phản ứ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfkhoa_luan_thuc_trang_o_nhiem_moi_truong_va_giai_phap_xu_ly_v.pdf