Luận án Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

1.1. Những công trình nghiên cứu về tư duy và tư duy chiến lược 5

1.2. Những công trình nghiên cứu về trình độ tư duy, tư duy chiến lược của đội

ngũ cán bộ lãnh đạo 9

1.3. Những công trình về giải pháp nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội

ngũ cán bộ lãnh đạo 13

1.4. Giá trị của các công trình nghiên cứu đã tổng quan và những vấn đề luận

án tiếp tục nghiên cứu 20

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC VÀ VAI

TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO 24

2.1. Tư duy và tư duy chiến lược 24

2.2. Vai trò của tư duy chiến lược đối với cán bộ lãnh đạo 41

2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao trình độ tư duy chiến lược 47

Chương 3: NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 76

3.1. Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta

hiện nay - thực trạng và nguyên nhân 76

3.2. Những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho

đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta 106

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ

DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA

TRONG TÌNH HÌNH MỚI HIỆN NAY 126

4.1. Đổi mới công tác lựa chọn, tuyển dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp

đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ tư duy chiến lược 126

4.2. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo theo hướng rèn

luyện tư duy chiến lược 129

4.3. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại và khoa học dự báo cho đội ngũ

cán bộ lãnh đạo 143

4.4. Phát huy nhân tố chủ quan của đội ngũ cán bộ lãnh đạo 146

KẾT LUẬN 151

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 153

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

pdf166 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 15/03/2022 | Lượt xem: 47 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, để có sự phát triển tối ưu đều cần tư duy ở tầm chiến lược. Đặc biệt đối với nước ta đang cần những bước đi dài, đi tắt, đón đầu để bắt kịp sự phát triển của thế giới lại càng đòi hỏi phải có tư duy chiến lược, nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. Người cán bộ lãnh đạo ở cả góc độ nhận thức hay hoạt động thực tiễn đều đòi hỏi phải có cái nhìn khái quát, toàn diện, tổng thể nhưng đồng thời cũng phải hiểu sâu sắc về các vấn đề cả ở lĩnh vực lý luận lẫn thực tiễn. Trên cơ sở đó phải xử lý thông tin, đưa ra được các quyết định đúng đắn nhằm giải quyết các vấn đề liên quan, đề xuất những phương án có tính chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, nâng cao trình độ tư duy chiến lược có vai trò to lớn cả về mặt nhận thức và hoạt động thực tiễn đối với người cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay. 75 Có thể nói, đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính là nòng cốt, là linh hồn, là người trực tiếp chèo lái đưa quê hương, đất nước vươn tới những thành tựu mới, hội nhập, sánh vai cùng các quốc gia khác trên toàn thế giới. Bằng năng lực và trình độ cả về tư duy và hoạt động thực tiễn, người cán bộ lãnh đạo tạo nên những ảnh hưởng đối với sự phát triển trên quy mô rộng lớn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng, cả mặt tích cực và hạn chế đến việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo nước ta hiện nay, đó là tình hình kinh tế - xã hội; những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; yếu tố truyền thống văn hóa và sự nỗ lực của chính bản thân nhân tố chủ quan người cán bộ, lãnh đạo. Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay là yêu cầu tất yếu cho công cuộc phát triển đất nước. Để xây dựng được nội dung cụ thể cho việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo nước ta đảm bảo có được tầm nhìn xa, trông rộng, mang tính sáng tạo vượt trước, có được những dự báo đúng xu hướng vận động của thực tiễn thì việc tìm hiểu, đánh giá thực trạng tư duy chiến lược của đội ngũ này là cơ sở cần thiết. 76 Chương 3 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 3.1. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO NƯỚC TA HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 3.1.1. Những kết quả đạt được trong nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta và nguyên nhân 3.1.1.1. Những kết quả đạt được Đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta trong thời gian qua ngày càng trưởng thành trên mọi lĩnh vực, từ trình độ tư duy đến năng lực hoạt động thực tiễn. Trình độ tư duy chiến lược không ngừng được nâng cao, điều này được thể hiện rõ trước hết thông qua các đường lối chủ trương, chính sách của Đảng ta và cùng với đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách đó vào thực tiễn đem lại những thành công đưa đến sự phát triển của đất nước trên nhiều mặt khác nhau. Thứ nhất, nâng cao tầm nhìn xa trông rộng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta khẳng định được tầm nhìn xa trông rộng qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, đã xây dựng và thực hiện đạt kết quả tốt trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội với những kế hoạch cho nhiều năm, trong những giai đoạn đạt kết quả đáng ghi nhận. Những kết quả đạt được trong nâng cao trình độ tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay là kết quả trực tiếp từ công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới tư duy do Đại hội lần thứ VI của Đảng ta khởi xướng. Trước khi Đại hội Đảng VI diễn ra, đất nước ta rơi vào tình trạng khó khăn, bế tắc do những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện. Những sai lầm tồn tại trên nhiều mặt khác nhau, đặc biệt sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan. Chúng ta đã mắc những sai lầm trong bố trí cơ cấu kinh tế, nhất là ở lĩnh vực đầu tư và xây dựng cơ bản của những năm 1976 - 77 1980, đã để lại hệ quả nặng nề. Thực tiễn đất nước đặt Đảng ta trước những thách thức to lớn, đòi hỏi, phải đổi mới phương pháp lãnh đạo, mà trước hết là đổi mới tư duy. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, cùng với việc đánh giá đúng những thành tích đạt được, tại Đại hội VI đã kiểm điểm những mặt yếu kém, phân tích sâu sắc những sai lầm và khuyết điểm, chỉ rõ nguyên nhân, nêu biện pháp khắc phục; xác định nhiệm vụ và mục tiêu phấn đấu những năm tiếp theo. Đại hội đánh giá, tuy chúng ta đã phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại, đạt những thành tựu quan trọng, nhưng nhìn chung chưa thực hiện được mục tiêu do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống của nhân dân. Chúng ta mắc những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, đặc biệt là những sai lầm về chính sách kinh tế, bệnh chủ quan, duy ý chí. Từ đó, Đại hội VI đã quyết định đề ra đường lối đổi mới. Đại hội xác định, đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực, trọng tâm trước mắt là đổi mới chính sách kinh tế, giữ vững ổn định chính trị là tiền đề bảo đảm thực hiện công cuộc đổi mới. Về phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội, Đại hội nêu rõ, tư tưởng chỉ đạo là bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, bố trí lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý; đổi mới cơ cấu kinh tế giữa các ngành, thực hiện bằng được ba chương trình mục tiêu về lương thực thực phẩm; hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Phát huy mạnh mẽ động lực khoa học, kỹ thuật. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Thực hiện công bằng xã hội, lối sống có văn hóa; bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tổng kết lý luận và thực tiễn, nhìn lại 30 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra những chủ trương, đường lối, thực hiện những bước đi hoàn toàn đúng đắn. Đây chính là kết quả của tư duy chiến lược, tư duy nhìn xa, trông rộng để thấy được cái toàn diện, thấy được xu hướng vận động của hiện thực khách quan mà đề ra được chủ trương đúng đắn, dẫn dắt, soi đường cho cả đất nước phát triển đi lên. 78 Thứ hai, nâng cao tính sáng tạo của tư duy cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta ngày càng nhanh nhạy, thể hiện được tính sáng tạo, vượt trước. Phẩm chất năng động, sáng tạo trong tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay được thể hiện rõ nét trong việc nhạy bén, thích ứng nhanh, phân tích các tình huống hết sức phức tạp của tình hình thế giới cũng như trong nước, thông qua việc thu nhận và xử lý thông tin, trên cơ sở đó mà xây dựng kế hoạch, dự án, soạn thảo nghị quyết và ra quyết định phù hợp với xu hướng phát triển, đạt hiệu quả cao trong thực tiễn. Sự phát triển trong tư duy được đánh dấu trong những nghị quyết, chỉ thị, qua từng giai đoạn. Nhìn lại quá trình lãnh đạo trong hơn 30 năm đổi mới của đội ngũ cán bộ lãnh ta thấy, đó là sự lãnh đạo thống nhất giữa các quan điểm chiến lược và sự vận dụng quan điểm chiến lược trong chỉ đạo thực tiễn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội cao liên tục trong nhiều năm qua, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Đây là những kết quả không thể phủ nhận về sự nhạy bén trong tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo - yếu tố không thể thiếu để phát triển trình độ tư duy chiến lược. Ngày nay, yếu tố thời đại kể cả cơ hội và thách thức đều vừa tạo ra những khả năng và những điều kiện mới hết sức thuận lợi để đội ngũ cán bộ lãnh đạo của nước ta nâng cao trình độ tư duy, đổi mới tư duy, vừa bắt buộc họ muốn thành công trong công tác lãnh đạo của mình thì không còn cách nào khác là phải tích cực học hỏi, nghiên cứu tìm tòi nâng cao khả năng tư duy của mình để vươn lên có đủ năng lực và trình độ phù hợp với thực tiễn đời sống. Sau quá trình chịu ảnh hưởng những luồng tư duy từ các quốc gia khác nhau do sự xâm lược và đô hộ nước ta của các thế lực ngoại xâm, việc phát triển một cách tự giác tư duy lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin do Bác Hồ là người đầu tiên truyền bá vào Việt Nam đã giúp đội ngũ cán bộ nước ta tiếp cận với một phương pháp tư duy khoa học, đúng đắn. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng, là đỉnh cao của trí tuệ nhân loại trong thời đại ngày nay, là ngọn nguồn vô tận cho sự phát triển tư duy cách mạng của nước ta, là chỗ dựa lý luận của Đảng ta. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là 79 cơ sở lý luận của cách mạng Việt Nam. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp tư duy biện chứng chủ nghĩa Mác - Lênin cùng phong cách tư duy Hồ Chí Minh đã tạo nên lối tư duy mới có vai trò to lớn trong hình thành và phát triển tư duy chiến lược. Từ đó, cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo luôn được Đảng ta coi là nhiệm vụ cấp bách mang tính liên tục và thường xuyên và trong bối cảnh sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội nhanh, luôn vận động, đổi mới không ngừng, đội ngũ cán bộ lãnh đạo được trang bị một hệ thống kiến thức mới. Những điều này đã góp phần tạo nên những mặt mạnh trong tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta, thể hiện từ trong nhận thức đến hoạt động thực tiễn. Nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn, từ đó kiên định mục tiêu chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhận thức những tính quy luật, những mâu thuẫn, những mối quan hệ biện chứng trong phát triển kinh tế - xã hội ngày càng sát hợp hơn, từ đó xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn. Nhận thức ngày càng rõ hơn các xu hướng chung của tình hình thế giới, từ đó đề ra chiến lược hội nhập quốc tế phù hợp. Đánh giá tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay và xu thế trong tương lại, đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta đi tới nhận định: xu hướng hòa bình, hợp tác, phát triển; toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng; sự hợp tác, cạnh tranh, thỏa hiệp... của các nước lớn có xu thế tăng; cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, cách mạng công nghiệp lần thứ tư ngày càng đi sâu và đóng vai trò quan trọng vào sự vận động, biến đổi của thế giới... Từ nhận thức, đi tới những nhận định về tình hình thế giới sát thực tế mà đội ngũ lãnh đạo nước ta đưa ra những chủ trương, quyết sách phù hợp, bên cạnh đó cũng kịp thời nhìn nhận và điều chỉnh những yếu tố không phù hợp với điều kiện thực tế. Cụ thể, giai đoạn 2011 - 2015, do chưa lường hết được những khó khăn, thách thức của điều kiện thế giới đưa lại cũng như chưa nhận thức đầy đủ những điều kiện trong nước dẫn tới việc đề ra nhiều chỉ tiêu về kinh tế - xã hội khá cao dẫn tới không thực hiện thành công. Ngay sau Đại hội Đảng lần thứ XI, 80 nhận định lại tình hình thế giới diễn biến nhanh và phức tạp, xác định kinh tế phục hồi chậm hơn so với dự báo, khủng hoảng nợ công trầm trọng hơn diễn ra ở nhiều quốc gia, cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn quyết liệt hơn cùng với những khó khăn do thiên tai, thời tiết đưa lại, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã kịp thời điều chỉnh nhiệm vụ và các giải pháp phát triển, xác định lại những yếu tố cần ưu tiên, chú trọng trong điều kiện thực tế trên nền tảng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và mục tiêu xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Với những nhận định và điều chỉnh ấy đã đưa lại những kết quả tích cực: lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; tăng trưởng kinh tế được phục hồi và duy trì ở mức hợp lý, chất lượng tăng trưởng tăng lên; công tác đối ngoại phát triển, uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế... Thứ ba, nâng cao tính dự báo trong tư duy của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo. Khả năng dự báo, định hướng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta có những bước tiến rõ nét. Người cán bộ lãnh đạo ở những cương vị, lĩnh vực khác nhau nhìn chung đều đã đưa ra được những dự báo sát hơn với thực tế, chỉ ra được xu hướng vận động của thế giới, của đất nước, những việc cần phải nhận thức và thực hiện, đáp ứng được xu thế phát triển. Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh đã phân tích nội dung, tính chất của thời đại, tổng kết quá trình cách mạng Việt Nam, kế thừa và phát triển những quan điểm cơ bản trước đó của Đảng để nêu ra quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội, chỉ ra mục tiêu và những định hướng lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là văn kiện quan trọng mang tầm định hướng chiến lược, là nền tảng tư tưởng lý luận và ngọn cờ chiến đấu của Đảng ta, dân tộc ta trong giai đoạn mới. Tại Cương lĩnh 1991, Đảng ta đã chỉ ra thực trạng đất nước đưa ra những nhận định về xu hướng phát triển, trên cơ sở đó đưa ra những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại. Cương lĩnh xác định nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút 81 tất cả các nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hoá sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những luận điểm được nêu trong Cương lĩnh 1991 thể hiện sự đánh giá một cách chính xác về những diễn biến phức tạp của đời sống chính trị - xã hội thế giới. Bằng việc đưa ra những nhận định đúng đắn về thực trạng đất nước, đồng thời chỉ ra được xu thế phát triển chung của thời đại, chúng ra đã xác định được và có cái nhìn đúng đắn rằng: Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp. Cương lĩnh năm 1991 đã đưa ra những quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đó là một bước tiến lớn trong tư duy lý luận của Đảng ta, vừa quán triệt tinh thần cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội vừa thể hiện sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ mới. Trong quá trình thực hiện Cương lĩnh năm 1991, việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được tiếp tục và từng bước hoàn chỉnh thêm nhận thức về vấn đề này. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đánh thêm một dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đó là đã thông qua Cương lĩnh bổ sung và phát triển (2011). Cương lĩnh có những thay đổi và bổ sung những nội dung mới, phù hợp với bối cảnh thế giới và đất nước thời kỳ hiện tại, trong đó có một số vấn đề lớn được bổ sung nhiều đó là về những đặc điểm và xu thế chung của tình hình thế giới. Cương lĩnh chỉ ra, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá được xác định diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước. Xu thế lớn của thế giới sẽ tiếp tục diễn ra trên phạm vi toàn cầu được xác định đó là vấn đề hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy vậy, một số vấn đề không mong muốn đối với nhân dân toàn thế giới đó là các cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ biển đảo, tài nguyên, vấn đề cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế ở các quy mô lãnh thổ khác nhau vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp, khó lường, chưa có biện pháp giải quyết triệt để. 82 Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã bổ sung hai vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người: Chống khủng bố; ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhận định về đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Cương lĩnh viết: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Cương lĩnh đặc biệt chú trọng đến những yếu tố nhằm phát triển con người toàn diện. Những định hướng lớn về phát triển kinh tế được bổ sung thêm nhiều nội dung. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể hóa vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và mỗi thành phần đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Từ Đại hội VIII, Đảng ta đã sử dụng khái niệm “kinh tế nhà nước”, bao gồm: ngân sách nhà nước, các quỹ của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước. Từ Hội nghị Trung ương 3 khoá IX đã xác định: kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo theo nghĩa “có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị xã hội của đất nước”; đồng thời cũng xác định doanh nghiệp nhà nước “giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu cho kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thực tế những năm qua, nhất là trong điều kiện khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, các thành phần kinh tế của nước ta đều phát triển, khẳng định được vị trí và vai trò của mình trong cơ cấu kinh tế của đất nước, đưa nền kinh tế nước ta phát triển có nhiều khởi sắc. Kinh tế nhà nước mở đường, thúc đẩy, tạo điều kiện, tạo động lực cho phát triển các thành phần kinh tế; Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế tư nhân làm tốt vai trò là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển. Quan hệ sản xuất 83 thay đổi nhằm phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển; phương thức phân phối sản phẩm ngày càng phù hợp; các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Về quan hệ sở hữu, quyền của người sở hữu được phân định rõ, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ; về tổ chức quản lý, đảm bảo mọi đơn vị kinh doanh đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình; về quan hệ phân phối sản phẩm, bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển. Với quan hệ sản xuất như vậy, các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và theo nguyên tắc thị trường; chế độ phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng với nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước giữ vai trò quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất. Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và chú trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Trong chính sách phát triển kinh tế, các ngành công nghiệp và các ngành công nghiệp có lợi thế thường xuyên coi trọng phát triển, được xem là có tính nền tảng; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới. Việc phát triển các ngành kinh tế bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng, thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn; chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. 84 Yếu tố con người trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011) được đặc biệt chú trọng. Theo đó, con người được coi là trung tâm của chiến lược phát triển. Để đảm bảo vị trí trung tâm đó, những nội dung liên quan đến yếu tố con người yêu cầu được thực hiện đó là: tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Môi trường tác động đến con người cũng được vạch rõ tại cương lĩn. Đầu tiên là môi trường sống gắn với sự ra đời và những bước phát triển đẩu tiên của con người - môi trường gia đình. Nghị quyết xác định, phải xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Tiếp đó con người được tham gia vào những quá trình giáo dục khác nhau với nội dung giáo dục luôn được cập nhật, bổ sung để phù hợp với tình hình mới và cho phát triển lâu dài. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. Có thể nhận thấy, Cương lĩnh 2011 đã kịp thời bổ sung nhiều nội dung nhằm phù hợp với bối cảnh đương đại. Qua đó đã thể hiện cái nhìn toàn diện của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nước ta, bên cạnh những yếu tố tốt đẹp của truyền thống, của lịch sử cần phát huy thì cũng đã kịp thời nghiên cứu thực tiễn, nắm bắt xu hướng vận động, biến đổi của toàn cục mà đưa ra những kế hoạch chiến lược, những chỉ tiêu, những tiêu chí mới thích hợp hơn, toàn diện hơn, lâu dài hơn. Cho đến nay, mặc dù còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta có thể khái quát, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Những khái niệm về con đường xây 85 dựng chủ nghĩa xã hội dần được làm sáng tỏ. Như việc nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải trên quan điểm phát triển, có chọn lọc. Những định hướng mà Cương lĩnh vạch ra đã giúp chúng ta có định hướng để phát triển cả trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Với những định hướng ấy, cả nước ta đã có những bước tiến rất lớn, hợp quy luật, đáp ứng được bước đầu cho những công cuộc hội nhập quốc tế. Trong Cương lĩnh 2011, những định hướng cho sự phát triển đất nước tiếp tục được bổ sung làm rõ trên nhiều lĩnh vực cụ thể: về phát triển kinh tế; phát triển các ngành, vùng; văn hóa, xã hội; khoa học, công nghệ; chính sách xã hội; xây dựng cộng đồng xã hội văn minh; quốc phòng, an ninh, định hướng đối ngoại; về dân chủ xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị. Đặc biệt, trong Cương lĩnh này, một nội dung rất quan trọng được đề cập đến, đó là việc xác định tám mối quan hệ lớn mang tính quy luật của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là: “quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” [25, tr.72].

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_nang_cao_trinh_do_tu_duy_chien_luoc_cho_doi_ngu_can.pdf
Tài liệu liên quan