Luận án Nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay - Đavon Butthanuvông

Chƣơng 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI. 6

1.1. Các công trình, nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án . 6

1.2. Những giá trị tham khảo từ các công trình có liên quan và những nội

dung luận án cần tập trung nghiên cứu . 23

Kết luận chƣơng 1 . 28

Chƣơng 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC

CHẤT LƢỢNG CAO Ở NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 29

2.1. Quan niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lƣợng cao. 29

2.2. Quan điểm của đảng nhân dân cách mạng lào về nguồn nhân lực chất

lƣợng cao; các bộ phận cầu thành và tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực

chất lƣợng cao của lào. 35

2.3. Những yếu tố tác động đến nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở nƣớc cộng

hòa dân chủ nhân dân lào. 46

Kết luận chƣơng 2 . 57

Chƣơng 3.THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO

Ở NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA . 58

3.1. Thực trạng nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở nƣớc cộng hòa dân chủ nhân

dân lào hiện nay . 58

3.2. Những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở nƣớc cộng

hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay . 93

Kết luận chƣơng 3 . 109

Chƣơng 4.QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU. 110

NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO Ở

NƢỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY . 110iii

4.1. Quan điểm cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở nƣớc

cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay . 110

4.2. Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở nƣớc

cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay . 117

Kết luận chƣơng 4 . 154

KẾT LUẬN. 155

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ . 158

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ. 160

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 161

PHỤ LỤC. 172

pdf196 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 351 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào hiện nay - Đavon Butthanuvông, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đánh giá kết quả công việc của bản thân, 38,8% cho rằng công việc của mình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, 16,3% cho rằng hiệu quả công việc của mình tốt, sẽ giúp cho đất nƣớc phát triển, 4,1% cho rằng công việc của mình không hiệu quả lắm, và 16,5% không tự đánh giá đƣợc [Xem phụ lục 10; 9]. Những con số đó cũng khẳng định lại những nhận định trên đây. Ngày 27-12-2006 Quốc hội nƣớc CHDCND Lào đã ra Nghị định số 06/QH, về ban hành Bộ luật Lao động. Bộ luật đã quy định những nguyên tắc, quy chế về lao động, về đào tạo và phát triển nghề, về việc làm, về lao động, tạo công ăn việc làm, sử dụng lao động, điều chỉnh quan hệ lao động, quản lý lao động ... để nâng cao năng suất lao động góp phần trong phát triển kinh tế - xã hội nƣớc nhà và hội nhập quốc tế. Do trình độ văn hóa tƣơng đối cao so với mặt bằng chung của đội ngũ công nhân nói chung nên công nhân lành nghề là những ngƣời có ý thức kỷ luật tốt, có trách nhiệm đối với công việc và tự ý thức đƣợc vai trò của mình đối với sự nghiệp phát triển đất nƣớc. Có 75,5% công nhân cho rằng cần phải có đạo đức nghề nghiệp [Xem phụ lục 10; 7]. Mặc dù vậy, trong một số doanh nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật của công nhân Lào chƣa đƣợc tốt do họ bị ảnh hƣởng nhiều bởi thói quen của ngƣời tiểu nông, bởi lối sống sản xuất nhỏ, lạc hậu. Thống kê của Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội năm 2016, cả nƣớc đã xảy ra 56 vụ tranh chấp lao động và 53 ngƣời bị tử vong do tai nạn lao động...[75, tr 29]. Nguyên nhân là do một số doanh 82 nghiệp sử dụng lao động không quản lý chặt chẽ, xây dựng quy trình, biện pháp làm việc chƣa đảm bảo an toàn, và do chính ngƣời lao động chủ quan, không tuân thủ nghiêm các quy định về an toàn và kỷ luật lao động. Trong lao ðộng sản xuất nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng, duy trì kỷ luật lao ðộng ðýợc xem là yếu tố sống còn, không chỉ góp phần bảo ðảm an toàn cho ngýời lao ðộng mà còn giúp tãng nãng suất và hiệu quả lao ðộng. Tại những quốc gia phát triển, bí quyết thành công của họ có thể gói gọn trong ba chữ: kỷ luật cao. Hiện nay, lao ðộng phổ thông làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, công trýờng phần lớn xuất thân từ nông thôn nên họ quen với nếp làm việc tự do, thýờng xuyên vi phạm kỷ luật lao ðộng. Do ðó, nãng suất, hiệu quả cũng nhý tính an toàn trong lao ðộng không cao. Hiệu suất làm việc của ngýời lao ðộng Lào thấp hõn rất nhiều so với lao ðộng của các nýớc trong khu vực. Ðiều này không chỉ ảnh hýởng kết quả sản xuất, kinh doanh của từng doanh nghiệp, mà còn làm chậm tốc ðộ tãng trýởng của cả nền kinh tế. Sự sụt giảm lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực, chi phí và thời gian ðào tạo sẽ là rào cản ngày càng khó výợt qua trong cuộc ðua tranh thu hút ðầu tý và duy trì tãng trýởng với các quốc gia trong khu vực. Chúng ta ðang phải trả giá cho "lợi thế" gọi là "nhân công giá rẻ". Bởi với nhân công rẻ thì chắc chắn chất lýợng lao ðộng thấp và ðó là rào cản lớn của quá trình sản xuất công nghiệp ngày càng hiện ðại hiện nay. Vì vậy, vấn ðề ðặt ra là các nhà máy, doanh nghiệp, các ðõn vị sản xuất cần siết chặt kỷ luật lao ðộng, xây dựng tác phong công nghiệp trong ðào tạo, dạy nghề, cũng nhý trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là cho ðội ngũ công nhân lành nghề hiện nay. Về sức khỏe, 51% nhóm công nhân tham gia trả lời khảo sát tự cho rằng sức khỏe của mình tốt, rất ít ốm; 18,4% chỉ ốm vặt; 20,4% có bệnh mãn tính nhẹ, không cần phải điều trị theo bệnh viện và 10,2% thỉnh thoảng phải thăm 83 khám tại bệnh viện [Xem phụ lục 10; 4]. So với các nhóm nhân lực chất lƣợng cao khác, đây là nhóm có sức khỏe tốt nhất, tỉ lệ ngƣời có sức khỏe tốt, ít ốm là cao nhất. Tuy nhiên, chiều cao trung bình ở cả nam và nữ đều thấp hơn so với chiều cao trung bình chung của ngƣời Lào, nam 1,65m và nữ là 1,58m, trong khi con số này ở nhóm cán bộ lãnh đạo là 1,71m và 1,61m [Xem phụ lục 10; 2]. - Thực trạng thực hiện vai trò của đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề của Lào hiện nay và nguyên nhân (đánh giá cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước Lào đối với nguồn nhân lực này) Lào vẫn duy trì các quy tắc lao động rất nghiêm ngặt phản ánh sức mạnh của giai cấp công nhân. Tổ chức Công đoàn luôn đồng hành cùng ngƣời lao động, có mặt trong ban điều hành và tất cả các đơn vị lao động phải có một đại diện công đoàn. Ngƣời lao động đƣợc bảo vệ bởi các tổ chức này khỏi bị sa thải, và bất kỳ trƣờng hợp sa thải ngƣời lao động nào cũng phải đƣợc chứng minh trong tòa án. Những trƣờng hợp nhƣ vậy phải chứng minh đƣợc rằng ngƣời sử dụng lao động đã tìm kiếm việc làm mới cho ngƣời lao động, hoặc ngƣời lao động đƣợc trợ cấp thôi việc để hỗ trợ họ trong khi họ tiếp tục tìm kiếm công việc mới. Lao động đƣợc giới hạn 8 giờ trong ngày hoặc 48 giờ một tuần cho tất cả các ngành nghề, giới hạn thời gian làm thêm giờ tối đa, và nghỉ phép ốm đau, nghỉ đẻ, và thời gian nghỉ. Bộ trƣởng Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội đã ký ban hành Nghị quyết số 5523/LĐ-PH, ngày 04-12-2009 về việc tổ chức và hoạt động của cán bộ kiểm tra lao động. Nghị quyết này đã quy định những nguyên tắc, quy chế, cơ cấu cán bộ, tiêu chuẩn, điều kiện, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ làm nhiệm vụ kiểm tra lao động và thi hành kỷ luật đối với đơn vị lao động không tuân theo nguyên tắc, quy chế và Luật Lao động đã quy định. Đồng thời, Bộ trƣởng Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội cũng đã ký ban hành Nghị quyết số 3006/LĐ-PH, ngày 21-08-2009 về đảm bảo an toàn và sức khỏe 84 ngƣời lao động trong nơi thi công. Mục đích của Nghị quyết này nhằm đƣa ra các quy định về nguyên tắc, quy chế để tăng cƣờng tiêu chuẩn về đảm bảo an toàn và sức khỏe của ngƣời lao động, có cách thức phòng vệ tai nạn lao động và bệnh hiểm nghèo để bảo vệ đời sống, của cải vật chất của ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động ở nơi thi công. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nƣớc Lào đã có nhiều quyết định, quy định, nghị định về chính sách đối với việc phát triển đội ngũ công nhân lành nghề, chẳng hạn: Thông báo số 2951/LĐ-PH, ngày 23-11-2011 của Bộ trƣởng Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội về sửa đổi tiền công thấp nhất cho ngƣời lao động trong các đơn vị kinh doanh (cụ thể đã quy định thời gian làm việc là 26 ngày/1 tháng, 6 ngày/1 tuần, 8 giờ/1 ngày và mức lƣơng thấp nhất là 626.000 kíp, chƣa kể tiền hỗ trợ khác). Ngoài ra, Nghị quyết số 043/LĐ-PH ngày 10-01- 2010 của Bộ trƣởng Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội về việc xây dựng và quản lý doanh nghiệp dịch vụ tìm việc làm. Trong đó đã nêu rõ các nguyên tắc, quy chế, tiêu chuẩn, hoạt động và quản lý doanh nghiệp dịch vụ tìm việc làm nhằm tạo việc làm cho ngƣời lao động để có thu nhập và giảm nghèo cho họ. Ngày 22-01-2011, Chính phủ Nƣớc CHDCND Lào đã ra Nghị định số 036/CP, về việc đào tạo và phát triển tay nghề lao động. Trong đó đã quy định rõ các nguyên tắc, nội dung, phƣơng pháp... của việc đào tạo và phát triển tay nghề lao động; Ngày 01-12-2015, Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Thể thao đã ra Quyết định số 7288/GD-NN, về việc cho phép sử dụng chiến lƣợc phát triển nghề nghiệp và tay nghề giai đoạn 2016-2020. Chiến lƣợc nhằm cải tiến cơ sở hạ tầng, tạo sức mạnh và phát huy khả năng của các trung tâm dạy nghề, huy động xã hội và các đơn vị doanh nghiệp hỗ trợ giúp các cơ sở dạy nghề, cải cách chƣơng trình, nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy nghề, bảo đảm chất lƣợng tay nghề,... Ngày 20-06-2016, Bộ trƣởng Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội đã ra Quyết định số 2196/LĐ-PH, về việc xây dựng phát triển làng 85 nghề và phúc lợi xã hội, trong đó đã quy định những nguyên tắc, quy chế, tiêu chuẩn, phƣơng pháp... trong việc tiến hành xây dựng phát triển làng nghề và phúc lợi xã hội nhằm đào tạo bồi dƣỡng cho các thành viên trong hộ gia đình và nhân dân trong làng có ý thức trong lao động sản xuất và giúp đỡ hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất. Những chính sách cụ thể và sát thực này đã tạo môi trƣờng và điều kiện hỗ trợ ngƣời lao động nâng cao trình độ tay nghề, đồng thời tạo điều kiện về mặt pháp lý để bảo vệ ngƣời lao động, tạo việc làm cho ngƣời lao động. 3.1.4. Thực trạng đội ngũ nông dân chất lƣợng cao Do điều kiện đặc thù của Lào với xuất phát điểm thấp - là một nƣớc nông nghiệp lạc hậu đi lên, nên đến nay, tỉ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế vẫn chiếm tỉ lệ lớn. Song những năm gần đây, với chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc Lào đẩy mạnh ứng dụng khoa học và kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nhất là những mặt hàng nông sản có lợi thế, nên ngày càng xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả, cung cấp nông sản sạch cho thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế, đồng thời đội ngũ nông dân làm ăn giỏi - nông dân chất lƣợng cao cũng ngày càng gia tăng. Theo nghĩa thông thƣờng, nông dân là những ngƣời tham gia sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế, rất nhiều nông dân, ngoài việc tham gia vào sản xuất nông nghiệp vẫn tham gia vào các hoạt động kinh tế khác nhƣ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn và dịch vụ. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, nông dân là ngƣời sống bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi. Theo quan niệm của đề tài, đội ngũ nông dân chất lƣợng cao là những ngƣời nông dân giàu kinh nghiệm và có khả năng ứng dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất nông nghiệp nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao, đóng góp vào tiến trình phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nƣớc. 86 - Về số lượng, độ tuổi, giới tính của đội ngũ nông dân chất lượng cao ở Lào Ngƣợc lại với đội ngũ giai cấp công nhân, nông dân Lào chiếm số lƣợng đông đảo và có lịch sử truyền thống lâu đời. Bởi lẽ, Lào là nƣớc có tiềm năng nông nghiệp lớn, đất đai phì nhiêu và mật độ dân số tƣơng đối thấp. Vì vậy, từ ngàn đời nay, nông nghiệp là nguồn sống chính của ngƣời dân Lào. Sau giải phóng, ngành nông, lâm nghiệp của Lào luôn đạt mức tăng trƣởng bình quân hàng năm khoảng 4% - 5% và chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế quốc dân (khoảng 21,3% GDP). Bƣớc tiến rõ nét nhất của ngành nông nghiệp Lào là việc phá thế độc canh, tự phát, dựa vào thiên nhiên và thay vào đó là sự phát triển đa dạng. Nếu nhƣ trƣớc đây ở Lào chỉ làm một vụ lúa mùa thì nay đã có thêm vụ chiêm. Đó là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhờ có những chính sách đúng đắn, từ chỗ thiếu ăn, Lào đã có lƣơng thực dự trữ và sản xuất đạt 4,2 triệu tấn gạo vào năm 2015. Ở Lào giờ đây cũng đã xuất hiện nhiều trang trại trồng nhiều loại cây theo qui trình công nghệ mới, hiện đại. Nhiều ngành nghề truyền thống đƣợc khôi phục và ứng dụng những thành tựu của khoa học và kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, nhờ đó tạo việc làm tại chỗ, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và xóa đói, giảm nghèo ở khu vực nông thôn và miền núi. Ngành chăn nuôi gia súc của Lào luôn đạt mức tăng trƣởng khoảng 3%/năm, đáp ứng đƣợc nhu cầu thực phẩm của ngƣời dân và xuất khẩu với kim ngạch ƣớc đạt 70 triệu USD/năm. Nét đáng chú ý là thực phẩm của Lào có độ an toàn cao, rất đƣợc du khách nƣớc ngoài ƣa chuộng, nhƣ gạo Xiêng Khoảng hay thịt bò khô Pạc Sê. Hiện tại, trên đất Lào, ngoài dự án trồng cây lúa nƣớc thành công,... việc trồng và chế biến các loại cây công nghiệp khác nhƣ cà phê, sắn, bạch đàn, bông, mía đƣờng cũng đƣợc các doanh nghiệp quan tâm và ứng dụng nhiều kỹ thuật mới, hiện đại vào quá trình sản xuất, từ đó nâng cao năng suất và chất lƣợng 87 sản phẩm nông nghiệp. Thực tế đó đã làm xuất hiện đội ngũ nông dân chất lƣợng cao ở Lào - đội ngũ có khả năng làm chủ những kỹ thuật, công nghệ mới tiên tiến hiện đại vào quá trình sản xuất. Về mặt số lƣợng, hiện nay mặc dù lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm (73,1%, nhƣng đóng góp vào GDP chỉ đạt 21,3%. Điều đó cho thấy, số lƣợng nông dân nhiều nhƣng tỉ lệ nông dân chất lƣợng cao - là những ngƣời có kinh nghiệm và có khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào quá trình sản xuất) còn rất thấp. Đa số nông dân, kể cả nông dân chất lƣợng cao đều cơ bản dựa vào kinh nghiệm để hoạt động nghề nghiệp. (Theo điều tra của đề tài, 48% nông dân chất lƣợng cao đƣợc hỏi trả lời rằng kỹ năng nghề nghiệp cơ bản của họ có đƣợc thông qua kinh nghiệm xã hội và tự tìm hiểu qua internet [Xem phụ lục 10; 5]. Nhận thức đƣợc sự cần thiết phải tăng nhanh đội ngũ này, Chính phủ Lào, đã chủ trƣơng đào tạo nguồn lực chất lƣợng cao hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ Lào, cho đến nay số lƣợng nông dân đƣợc đào tạo có trình độ ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất trong năm 2016 là 16.465 ngýời, trong ðó có 8.685 nữ; tạo ðýợc 6,302 việc làm mới trong lĩnh vực nông nghiệp, trong ðó có 2.056 nữ, chiếm 32,6% [75, tr 26]. Tuy nhiên, đội ngũ này chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Lào trong lĩnh vực nông nghiệp. Nói cách khác, Lào hiện đang thiếu trầm trọng đội ngũ nông dân giàu kinh nghiệm, có khả năng ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Chính vì vậy, trong năm 2016, nhu cầu lao động nƣớc ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp ở Lào lên tới 14,880 ngýời, trong ðó có 1,570 nữ giới [Xem phụ lục 8]. Về giới tính, trong khi phụ nữ chiếm tỉ lệ lớn hõn trong lao ðộng nông nghiệp nói chung, nhýng trong ðội ngũ nông dân chất lýợng cao, phụ nữ lại chiếm tỉ lệ ít hõn: 44%. 88 Về ðộ tuổi, tuổi trung bình của ðội ngũ này là cao nhất so với các nhóm còn lại (47,61 tuổi). Con số trên cho thấy nông dân chất lýợng cao týõng ðối già. Ðể giải quyết vấn ðề này ðòi hỏi những nhà hoạch ðịnh chiến lýợc phát triển Lào cần chú trọng ðào tạo nghề cho ðội ngũ nhân lực trẻ trong lĩnh vực nông nghiệp ðể trẻ hóa ðội ngũ nông dân chất lýợng cao, nhằm ðáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp một cách ổn ðịnh. - Về sự phân bố của nguồn lực nông dân chất lượng cao trong các lĩnh vực, khu vực khác nhau Khác với các nhóm lao động chất lƣợng cao khác nhƣ trí thức; cán bộ lãnh đạo, quản lý; công nhân kỹ thuật lành nghề thƣờng tập trung ở thủ đô và các thành phố lớn thì nguồn lực nông dân chất lƣợng cao phân bố đều ở các vùng nông thôn. Các vựa lúa nƣớc, vựa rau, chăn nuôi gia súc đƣợc phân bố chủ yếu ở miền xuôi. Các trang trại trồng và chế biến các cây công nghiệp nhƣ cà phê, sắn, bạch đàn,... thì phát triển chủ yếu ở miền núi. Đặc biệt, một số lƣợng khá lớn nông dân Lào đang trồng lúa nƣớc ở các vùng miền Bắc Lào dƣới sự hƣớng dẫn kỹ thuật của các chuyên gia đang chuyển sang trồng các loại cây khác cho lợi nhuận cao hơn và cần ít nƣớc hơn. Một lĩnh vực tăng trƣởng kinh tế trong những năm gần đây là trồng cao su, hầu hết ở phía bắc gần biên giới Trung Quốc dƣới sự hƣớng dẫn của cán bộ kỹ thuật nhằm đạt năng suất và chất lƣợng cao hơn. Do vậy, hình thành một đội ngũ nông dân đƣợc đào tạo kỹ thuật trong lĩnh vực này. Ngoài ra, gần đây cũng xuất hiện những ngƣời nông dân làm kinh tế giỏi ở bản Sỉ Han Nam, huyện Hạt Sai Phong, đây là vựa rau cung cấp cho cả Thủ đô Viêng Chăn. Qua học tập mô hình sản xuất rau hiệu quả nhờ ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam, những ngƣời nông dân ở bản Sỉ Han Nam, huyện Hạt Sai Phong đã đầu tƣ sản xuất rau sạch với diện tích 6.400m2 cạnh sông Mekong và đƣợc đầu tƣ hệ thống tƣới phun sƣơng tự động trị giá 19 triệu kíp (khoảng 89 trên 50 triệu VNĐ), đƣợc đầu tƣ từ năm 2006, chủ yếu trồng gia vị, rau thơm, nhất là hành lá. Những hộ trồng rau thơm khu vực này gần nhƣ bao thầu toàn bộ thị trƣờng rau thơm cho Thủ đô Viêng Chăn. Giữa các hộ trồng rau có một mối quan hệ mật thiết, họ tự phân công mỗi hộ chuyên trồng một loại rau; sau đó lại phải cân đối số lƣợng cụ thể tránh thừa hàng, hoặc thiếu hàng. Mỗi lần muốn thay loại cây hay thay đổi diện tích đều phải đƣợc những hộ khác thông qua. Nhƣ vậy, không chỉ chủ vƣờn rau là một nông dân giàu kinh nghiệm đang rất thành công khi ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, mang lại năng suất lao động cao mà toàn bộ vựa rau này đều có sự phân bố tƣơng đƣơng về chủng loại cây trồng, tránh cạnh tranh không lành mạnh và đảm bảo các hộ đều có thu nhập tƣơng đƣơng. Nhìn chung, nông dân chất lƣợng cao hiện nay ở Lào còn rất thiếu, nhất là trong khu vực trồng lúa nƣớc. Theo Thời báo Vientiane Times (ngày 08- 03-2017), trong vụ mùa trƣớc, Cục Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp Lào đã khuyến khích nông dân cả nƣớc trồng 126.000 hécta lúa, nhƣng họ chỉ có thể trồng 98.000 hécta. Trong mùa khô năm nay, Cục Nông nghiệp đặt mục tiêu trồng 95.000 hécta lúa trên cả nƣớc, nhƣng hiện mới thực hiện đƣợc khoảng 90.000 hécta (tức khoảng 95% kế hoạch). Trong khi đó, một số lƣợng khá lớn nông dân Lào, nhất là ở các vùng miền Bắc Lào, đang chuyển sang trồng các loại cây khác cho lợi nhuận cao và cần ít nƣớc hơn. Hiện nay, thách thức rất lớn đối với ngành nông nghiệp và lâm nghiệp Lào là làm thế nào để sản lƣợng thóc gạo tăng lên và đạt mục tiêu 4,3 triệu tấn trong năm nay. Trong một nỗ lực nhằm tăng sản lƣợng thóc gạo, các quan chức ngành nông nghiệp Lào đã và đang kêu gọi ngƣời nông dân sử dụng các kỹ thuật, công nghệ hiện đại và các giống lúa tốt để ứng dụng vào sản xuất lúa. Nhƣ vậy, đồng nghĩa với việc phải đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo, hƣớng dẫn kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho đội ngũ nông dân. 90 - Về trình độ học vấn, hiệu quả công việc, phẩm chất đạo đức và sức khỏe của đội ngũ nông dân chất lượng cao Theo kết quả khảo sát, đội ngũ nông dân có trình độ học vấn chênh lệch tƣơng đối nhiều: 3,7% mù chữ; 9,2% tốt nghiệp tiểu học; 10,1% tốt nghiệp phổ thông cơ sở; số nông dân có trình độ phổ thông trung học chiếm số đông nhất: 44%; cao đẳng, trung cấp chiếm 7,3%; đại học chiếm tƣơng đối nhiều 25,7% (Biểu đồ 3.3). Nếu so với trình độ học vấn lao động ở Lào (0,8% đƣợc đào tạo ở bậc trung học và 16,7% có trình độ đại học) thì đây là con số khả quan, cho thấy sự chuyển dịch tích cực về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của nhóm nông dân chất lƣợng cao. Biểu đồ 3.3: Trình độ học vấn của nông dân chất lƣợng cao ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Nguồn: Khảo sát của đề tài luận án, 2017 [ Phụ lục 10] Khảo sát về nguồn gốc những kỹ năng của nông dân chất lƣợng cao, chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau: Từ đào tạo chính qui: 9,2%; từ các đợt tập huấn: 20,2%; tự tìm hiểu qua internet: 22%; từ kinh nghiệm: 48% [Xem phụ lục 10; 5]. Nhƣ vậy, xuất phát từ trình độ học vấn tƣơng đối cao so với mặt bằng chung của lao động ở Lào, nông dân chất lƣợng cao có khả năng tự tìm hiểu và tích lũy kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng có từ đào tạo chính qui còn ở mức hạn chế. 91 Về hiệu quả công việc của nhóm nông dân chất lƣợng cao: theo điều tra của đề tài tại các huyện của khu vực ngoại thành Thủ đô Viêng Chăn cho kết quả nhƣ sau: năm 2016, thu nhập bình quân của nhóm công nhân, trí thức và cán bộ lãnh đạo là 1,6 triệu kíp/tháng thì thu nhập của lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ở mức thấp nhất chỉ đạt 1,1 triệu kíp/tháng. Tuy nhiên, nếu so sánh thu nhập của đội ngũ nông dân chất lƣợng cao (tức là những hộ nông dân làm ăn giỏi) thì lại cho kết quả ngƣợc lại nhƣ sau: thu nhập của hộ nông dân giỏi là 2,2624 triệu kíp/tháng (Biểu đồ 3.4), trong khi thu nhập của trí thức: 1,9827 triệu kíp/tháng, công nhân: 1,8306 triệu kíp/tháng, cán bộ: 1,7664 triệu kíp/tháng [Xem phụ lục 10; 1]. (Đơn vị: triệu kíp) Biểu đồ 3.4. Thu nhập bình quân theo tháng của đội ngũ nông dân giỏi so với các đội ngũ khác Nguồn: Khảo sát của đề tài luận án, 2017 [ Phụ lục 10] Tự đánh giá hiệu quả công việc của bản thân, 34,9% nông dân chất lƣợng cao cho rằng công việc của mình thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, trong khi con số này ở công nhân là 16,3%, trí thức là 19,6%. Bên cạnh đó, nông dân chất lƣợng cao ở Lào cũng là những ngƣời coi trọng truyền thống và đạo đức nghề nghiệp. Có tới 94,5% trong số họ cho rằng cần phải có đạo đức nghề nghiệp ngay cả khi họ làm việc trong lĩnh vực 92 nông nghiệp [Xem phụ lục 10; 8]. Điều đó cho thấy nông dân chất lƣợng cao ở Lào rất chú trọng đến an toàn thực phẩm, luôn cố gắng cung ứng những sản phẩm nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn lƣơng thực. Đây cũng chính là lý do thực phẩm xuất khẩu ở Lào đƣợc ƣa chuộng và đánh giá là thực phẩm sạch. Về sức khỏe, so với công nhân, trí thức và cán bộ thì sức khỏe của đội ngũ nông dân này kém hơn, và họ tự chăm sóc sức khỏe cũng hạn chế hơn. Cụ thể, chỉ có 38,5% nông dân chất lƣợng cao cho rằng sức khỏe của mình tốt, rất ít ốm; 22,9% chỉ ốm vặt; 23,9% có bệnh nhẹ và 14,7% thỉnh thoảng phải vào bệnh viện (Xem bảng 3.5). Điều này cũng phù hợp với trình độ học vấn và đặc trƣng của công việc. Bảng 3.5: Tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực chất lƣợng cao Lào Tốt, ít ốm Chỉ ốm vặt Có bệnh nhẹ Thỉnh thoảng vào viện Cán bộ 50.5% 34.0% 6.2% 9.3% Trí thức 42.9% 39.3% 10.7% 7.1% Công nhân 51.0% 18.4% 20.4% 10.2% Nông dân 38.5% 22.9% 23.9% 14.7% Nguồn: Khảo sát của đề tài luận án, 2017 [Phụ lục 10] Chiều cao trung bình của cả nam và nữ trong nhóm này cũng hạn chế hơn mức trung bình của dân số Lào: Nam 1,68m và nữ là 1,59m. Trên đây là thực trạng nguồn nhân lực chất lƣợng cao của Lào mà đề tài đã nghiên cứu khảo sát ở 04 nhóm tiêu biểu gồm: đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; đội ngũ trí thức; đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và đội ngũ nông dân chất lƣợng cao. Đây là những nhóm tiêu biểu nhất trong NNLCLC của Lào hiện nay cần phải đƣợc quan tâm nghiên cứu. 93 3.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO Ở NƢỚC CỘNG HÕA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY Từ việc phân tích thực trạng trên cho thấy: Nguồn nhân lực chất lƣợng cao ở nƣớc CHDCND Lào hiện nay đang đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết, từ việc thiếu về số lƣợng, chất lƣợng, thiếu điều kiện và môi trƣờng để phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao đến sự mất cân đối trong cơ cấu và bất hợp lý trong phân bố nguồn nhân lực và mâu thuẫn giữa nhu cầu phải phát triển nhanh NNLCLC với những rào cản trong tƣ duy, trong cơ chế, chính sách. 3.2.1. Số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực chất lƣợng cao chƣa đáp ứng với nhu cầu phát triển của nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Nhƣ phần trên đã phân tích, nhu cầu sử dụng nhân lực của Lào trong những năm gần đây đều vƣợt quá khả năng cung ứng của thị trƣờng lao động trong nƣớc. Theo thống kê của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, năm 2010 nhu cầu lao động lên tới 51 ngàn ngƣời, năm 2011 cần thêm 71 ngàn ngƣời, năm 2012 cần thêm 49 ngàn ngƣời, năm 2016 cần thêm 48.644 ngƣời (Biểu đồ 3.5). Biểu đồ 3.5: Nhu cầu của thị trƣờng lao động ở Lào năm 2010-2016 Nguồn: Báo cáo thống kê Lào năm 2016, [70, tr 8]. 94 Trong khi đó, lao động đƣợc đào tạo về chuyên môn kỹ thuật so với yêu cầu của Lào còn rất hạn chế: Ngƣời có trình độ cử nhân mới chiếm trên 16%. Hiện nay NNLCLC còn rất thiếu trong các ngành, lĩnh vực quan trọng nhƣ: chuyên gia trong các lĩnh vực nghiên cứu hoạch định chính sách, giảng viên trong các trƣờng đại học, cao đẳng; chuyên gia cao cấp về kỹ thuật nông - lâm, cán bộ nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, thƣơng mại quốc tế; công nghệ thông tin, tự động hóa Chất lƣợng lao động của đội ngũ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên ở các cơ sở đào tạo nhiều nơi trên cả nƣớc so với yêu cầu công việc chƣa đáp ứng. Kết quả khảo sát về tỷ lệ ngƣời có bằng cấp tuy tƣơng đối cao nhƣng thực tế mức độ hiệu quả công việc chuyên môn còn hạn chế. Đây là thách thức rất đáng kể đối với đội ngũ này trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế và yêu cầu ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại vào trong sản xuất hiện nay. Bên cạnh đó, kỷ luật lao động, nhất là tác phong lao động công nghiệp của ngƣời lao động của Lào chƣa đáp ứng yêu cầu. Do vậy, mặc dù sử dụng lao động nƣớc ngoài đòi hỏi chi phí cao hơn nhiều lần so với lao động trong nƣớc và hiện tại Lào vẫn còn nhiều lao động thất nghiệp và có nhu cầu việc làm (năm 2015, Lào có 73.270 ngƣời thất nghiệp), nhƣng trong những năm gần đây, số lƣợng lao động nƣớc ngoài tại Lào làm việc trong các lĩnh vực kinh tế tăng lên nhiều so với trƣớc đây. Năm 2012, lao động nƣớc ngoài tại Lào là 21 ngàn ngƣời, năm 2014 là 50 ngàn ngƣời, năm 2016 là 38.257 ngƣời làm việc trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ [Xem phụ lục 8]. Điều này có nguyên nhân một phần là do chất lƣợng của nguồn nhân lực ở Lào còn hạn chế. Do đó, gây ra tình trạng thiếu việc làm vì không đáp ứng đƣợc yêu cầu của các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động tay nghề cao, nhất là công nhân kỹ thuật lành nghề. Vì vậy, các doanh nghiệp đã phải nhập lao động từ nƣớc ngoài, trong khi ngƣời lao động Lào phải đi xuất 95 khẩu lao động với tiền công rẻ ở những nơi khác, nhất là Thái Lan đang cần lao động giá rẻ. Bên cạnh đó, tác phong lao động của nguồn nhân lực chƣa thể đáp ứng đƣợc yêu cầu của nền sản xuất hiện

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_nguon_nhan_luc_chat_luong_cao_o_nuoc_cong_hoa_dan_ch.pdf
Tài liệu liên quan