Luận án Quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015 - Nguyễn Văn Dương

MỞ ĐẦU.1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .7

1.1. Các công trình nghiên cứu của các học giả ở Ấn Độ và trên thế giới . 7

1.2. Các công trình nghiên cứu của các học giả ở Việt Nam . 19

1.3. Một số nhận xét và những vấn đề chưa được giải quyết, luận án tập

trung làm rõ. 23

Chương 2: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ BẢO

VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 1991 - 2015 .25

2.1. Quan niệm về độc lập dân tộc và củng cố độc lập dân tộc. 25

2.2. Nhân tố quốc tế . 29

2.3. Nhân tố trong nước. 43

Chương 3: NỘI DUNG CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG

HÒA ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 1991 - 2015 .59

3.1. Giai đoạn 1991 - 2000 . 59

3.2. Giai đoạn 2001 - 2015 . 77

Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC

NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN.115

4.1. Đánh giá chung. 115

4.2. Đặc điểm của quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng

hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015. 125

4.3. Một số bài học kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển . 133

KẾT LUẬN .147

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN.151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.152

PHỤ LỤC

pdf209 trang | Chia sẻ: trungkhoi17 | Lượt xem: 302 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015 - Nguyễn Văn Dương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ao, cũng như cuộc đối thoại xây dựng lòng tin, nhưng quan hệ hai nước hầu như không có bất cứ tiến triển đáng kể nào. Thời gian gần đây, Ấn Độ đã nỗ lực để từng bước gạt bỏ những trở ngại do quá khứ để lại, hướng tới xây dựng mối quan hệ hòa bình, hợp tác và phát triển với Pakistan, vì vậy, quan hệ hai nước có những cải thiện đáng kể. Hai bên đã nhất trí nối lại đối thoại trên tất cả các lĩnh vực, thiết lập đường dây nóng chống khủng bố nhằm chia sẽ thông tin và thông báo cho nhau về nguy cơ xảy ra các cuộc tấn công của các phần tử vũ trang. Đặc biệt, ngày 30/3/2011, Thủ tướng Ấn Độ M.Singh mời Thủ tướng Raza Gilani sang Mohali, bang Punjab xem trận bán kết thi đấu bóng chày giữa đội tuyển Ấn Độ và Pakistan thể hiện thiện chí mong muốn tìm các giải pháp hợp tác với quốc gia láng giềng này. Tiếp đó, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đã có cuộc hội đàm ở New Dehli (07/2011). Cuộc gặp này được coi là sự khởi đầu cho quá trình “tan băng” quan hệ giữa hai nước vốn rất không ổn định và hay rơi vào trạng thái khủng hoảng. Hai bên đã ra Tuyên bố chung nhất trí đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh, nới lỏng hoạt động thương mại, cải thiện hạ tầng cơ sở, tăng tần suất xe buýt ở Kashmir. Đặc biệt, ngày 08/04/2012, Tổng thống Pakistan A.Zardari đã thực hiện chuyến thăm Ấn Độ. Đây là chuyến thăm Ấn Độ đầu tiên của nguyên thủ quốc gia Pakistan kể từ năm 2005 và là cuộc “tái ngộ” đầu tiên giữa lãnh đạo hai nước kể từ năm 2009. Mặc dù chuyến thăm không đạt kết quả cụ thể nào, nhưng việc lãnh đạo hai nước thảo luận thẳng thắn, cởi mở những vấn đề “nhạy cảm” trong quan hệ hai nước, như chủ nghĩa khủng bố, tranh chấp lãnh thổ ở Kashmir, tranh chấp nguồn nước ở khu vực Siachen cho thấy hai nước đều có chung mong muốn bình thường hóa quan hệ, cũng như cả hai nước đã sẵn sàng cho một “chương mới” trong quan hệ song phương vốn không ít trắc trở. Năm 2014, khi Thủ tướng N.Modi lên nắm quyền, ông khẳng định chính sách đối ngoại của Ấn Độ phải bắt đầu từ biên giới quốc gia, vì vậy, ông thực hiện chính sách “Láng giềng là ƣu tiên số một”. Thủ tướng nhận ra rằng vị thế của Ấn Độ trong quan hệ với các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc sẽ chỉ được cải thiện đáng kể 92 chỉ khi New Dehli tái thiết lập được sự thống nhất về địa chính trị của tiểu lục địa Nam Á. Quan hệ tốt hơn với Pakistan sẽ giúp ông thực hiện được tham vọng biến Ấn Độ thành cường quốc kinh tế và có thể hạn chế được ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Pakistan. Chính vì thế, tại l nhậm chức Thủ tướng của mình, ông đã mời 4.000 quan khách trong đó có mặt của 8 vị nguyên thủ quốc gia thuộc Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) và vị khách đặc biệt được chú ý nhất trong buổi l này là Thủ tướng Pakistan, Nawaz Sharif, Thủ tướng đầu tiên của Pakistan tham dự l nhậm chức của một Thủ tướng Ấn Độ kể từ khi hai nước tuyên bố độc lập từ năm 1947. Đây được đánh giá là một món quà chính trị lớn đối với Thủ tướng N.Modi. Ngày 25/12/2015, Thủ tướng Ấn Độ N.Modi trên đường trở về sau chuyến thăm Nga và Afghanistan đã ghé thăm thành phố Lahore của Pakistan, để dự sinh nhật của Thủ tướng Pakistan N. Sharif. Cuộc gặp giữa hai tân Thủ tướng với những lời cam kết thúc đ y mạnh mẽ tiến trình hòa bình giữa hai nước, bằng việc nhất trí tổ chức cuộc đối thoại toàn diện giữa bí thư đối ngoại hai bên, bắt đầu từ giữa tháng 1/2016 tại Isalamabad, Pakistan. Đây được đánh giá là một sự kiện hết sức có ý nghĩa với quan hệ hai nước vì lần đầu tiên sau 11 năm, Thủ tướng Ấn Độ mới lại đặt chân lên đất Pakistan (trong suốt hai nhiệm kỳ Thủ tướng, ông M. Singh luôn nỗ lực thúc đ y các biện pháp để xây dựng lòng tin, thúc đ y quan hệ hai nước về mọi mặt nhưng ông chưa thực hiện được chuyến thăm chính thức nào đến Pakistan do những phản đối từ Đảng Quốc đại). Cuộc gặp gỡ này như là một kết thúc đẹp cho những hứa hẹn trong các cuộc gặp gỡ trước đó của hai người đồng cấp bên lề Hội nghị biến đổi khí hậu tại Paris (Pháp) cuối tháng 11/2015; cố vấn an ninh quốc gia hai nước gặp nhau tại Thái Lan đầu tháng 12/2015 và Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Sushma Swaraf thăm Pakistan nhân dịp dự Hội nghị về Afghanistan vào giữa tháng 12/2015. Do ảnh hưởng của quan hệ chính trị nên hợp tác giữa hai nước trong các vấn đề quốc tế, khu vực gặp nhiều trở ngại; quan hệ về kinh tế, thương mại cũng dừng ở mức hạn chế. Tóm lại, mối quan hệ căng thẳng giữa Ấn Độ và Pakistan không chỉ xuất phát từ những mâu thuẫn lịch sử về vùng Kashmir, vấn đề nguồn nước, đường biên giới, vấn đề khủng bố mà chính là sự thiếu niềm tin và luôn nghi ngờ lẫn nhau. Để cải thiện được mối quan hệ trên mọi mặt, cả hai nước phải có những điều chỉnh, đặt 93 niềm tin vào nhau, gạt bỏ những mâu thuẫn, giải quyết những căng thẳng bằng con đường đàm phán, hòa bình, đ y lùi được nguy cơ chiến tranh, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho khu vực và thế giới. Có như vậy, Cộng hòa Ấn Độ mới thực sự độc lập về chủ quyền quốc gia, biên giới lãnh thổ và an ninh trong nước. * Với các nƣớc láng giềng khác trong khu vực: + Với Nepal: Ấn Độ khẳng định coi quan hệ với Nepal là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ ở khu vực, cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của Nepal, ủng hộ tiến trình hòa bình ở Nepal và tiếp tục viện trợ cho Nepal phát triển kinh tế xã hội. Đáng chú ý, Ấn Độ đã hỗ trợ Nepal tấn công lực lượng vũ trang chống chính phủ ở Nepal, đồng thời cam kết sẵn sàng giúp Nepal xây dựng cơ sở hạ tầng, năng lực, trang thiết bị và huấn luyện quân sự Hai nước thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao, từ đó hai nước đã ký một loạt văn kiện như: Thỏa thuận các điều khoản sử dụng và quản lý tài nguyên nước và Hiệp định quá cảnh và an ninh (08/2000); Hiệp định kinh tế (03/2002); Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (10/2011) Tuy nhiên, vào tháng 10/2015, quan hệ hai nước có những rạn nứt và rơi vào tình trạng căng thẳng do những bất đồng liên quan đến các cuộc biểu tình của người Madhesi gốc Ấn Độ phản đối bản Hiến pháp mới của Nepal. Sự kiện này dẫn đến mâu thuẫn lớn giữa hai chính phủ. Phía Nepal đã ngăn chặn tất cả các kênh truyền hình Ấn Độ “vô thời hạn” và cho rằng Ấn Độ can thiệp vào chuyện nội bộ của họ. Còn về phía Ấn Độ tuyên bố sẽ đóng cửa biên giới, phong tỏa hàng hóa từ Ấn Độ đến Nepal. Trước tình hình đó, Thủ tướng N.Modi lo ngại rằng căng thẳng kéo dài chỉ tạo điều kiện cho Nepal “xích lại” gần hơn với Trung Quốc, còn chính phủ mới của Nepal, Thủ tướng Sharma Oil lo ngại mối quan hệ căng thẳng với Ấn Độ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của quốc gia vốn nhận được rất nhiều trợ giúp về mọi mặt từ Ấn Độ. Xuất phát từ lợi ích của mỗi quốc gia, chính phủ hai nước đã nhanh chóng thúc đ y những chuyến viếng thăm, đàm phán giải quyết những mâu thuẫn hiện tại và tiếp tục những mối quan hệ truyền thống tốt đẹp vốn có giữa hai nước. Cùng với mối quan hệ tốt đẹp về chính trị, quan hệ về kinh tế, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác cũng có những tiến triển tốt đẹp trong suốt giai đoạn 2001 - 2015. 94 + Với Bhutan: Hai bên thường xuyên duy trì các chuyến thăm cấp cao, đặc biệt là chuyến thăm Ấn Độ của Quốc vương Bhutan Namgyel Wangchuck tháng 02 năm 2007 và ký Hiệp định bổ sung “Hiệp ước hòa bình và hữu nghị 1949”. Hiệp ước năm 2007 đã đặt nền móng cho sự phát triển sâu rộng, toàn diện của quan hệ hai nước trong thế kỷ XXI, cũng như đảm bảo hòa bình và hữu nghị, tự do thương mại và quyền bình đẳng cho công dân hai nước. Đặc biệt hơn, sau khi Thủ tướng N.Modi nhậm chức, ông đã chọn Bhutan là điểm đến đầu tiên trong các chuyến công du nước ngoài trên cương vị mới. Điều này cho thấy được sự coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, trong đó có Bhutan, một nước nhỏ nhưng lại có tầm quan trọng rất lớn về chiến lược đối với Ấn Độ. Tuy nhiên, vào những ngày gần đây, khi mâu thuẫn giữa Ấn Độ và Trung Quốc lên tới đỉnh điểm do những căng thẳng di n ra tại vùng đất ngã ba giữa Ấn Độ - Trung Quốc - Bhutan giao nhau. Với mối quan hệ ngoại giao đặc biệt và vai trò giúp Bhutan về vấn đề an ninh theo Hiệp ước 2007 giữa hai nước đã ký kết, hy vọng rẳng Ấn Độ và Bhutan sẽ có những quyết định đúng đắn trong việc giải quyết tranh chấp biên giới với Trung Quốc. + Với Bangladesh: Ấn Độ nỗ lực không ngừng thúc đ y với quan hệ với quốc gia này thông qua việc ký kết một loạt các văn kiện quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh - quốc phòng như “Hiệp định khôi phục hòa bình biên giới” (2000), “Hiệp định về trao đổi 162 vùng đất “tách biệt” nằm trong lãnh thổ hai nước” (09/2011); “Hiệp định dẫn độ tội phạm” (09/2011); Thỏa thuận “Bangladesh cho Ấn Độ sử dụng các cảng Chittagong và Mongla” (09/2011) và hàng chục thỏa thuận hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư, tài chính ngân hàng, thông tin vi n thông, năng lượng và kết nối giao thông Ấn Độ và Bangladesh đã tham gia vào nhiều chương trình hợp tác khu vực thông qua các di n đàn đa phương như SAARC, BIMSTECT và Hiệp hội hợp tác khu vực vành đai Ấn Độ Dương (IORARC)... Những năm đầu thế kỷ XXI, hai bên không ngừng thúc đ y hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, giáo dục, văn hóa và đặc biệt là hợp tác trong lĩnh vực sản xuất năng lượng và kết nối giao thông. Ấn Độ còn thường xuyên tiến hành các hoạt động viện trợ và hỗ trợ kinh tế để giúp 95 Bangladesh đối phó với thiên tai và lũ lụt thường xuyên xảy ra; triển khai nhiều gói học bổng lớn và khuyến khích công dân học tập tại các trường đại học của Ấn Độ. + Với Sri Lanka: Hai bên đều nỗ lực vun đắp cho mối quan hệ láng giềng này thông qua các cuộc viếng thăm và trao đổi đoàn cấp cao giữa các nhà lãnh đạo hai nước. Hai bên đã ký kết nhiều văn kiện quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, giao thông vận tải, du lịch..., trong đó việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Ấn Độ - Sri Lanka tháng 3/2000 đã thúc đ y hợp tác kinh tế hai nước phát triển mạnh. Hiện nay, đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ ở Nam Á là Sri Lanka và Ấn Độ là đối tác thương mại lớn nhất của Sri Lanka trên toàn cầu. Năm 2015, có thể nói là năm dấu mốc lịch sử đối với mối quan hệ giữa Ấn Độ và Sri Lanka. Ngay sau khi nhậm chức (01/2015), Tổng thống Sri Lanka Maithripala Sirisena chọn Ấn Độ là điểm công du nước ngoài đầu tiên trên cương vị mới. Trong chuyến thăm Ấn Độ 4 ngày của ông, Tổng thống M. Sirisena khẳng định mong muốn thúc đ y gần gũi với Ấn Độ. Trước đó, từ ngày 17 - 19/01/2015, Ngoại trưởng Sri Lanka cũng đã tới thăm Ấn Độ, tiến hành đàm phán với người đồng cấp và gặp Thủ tướng N.Modi cùng nhiều quan chức cấp cao Ấn Độ khác. Hai bên đã nhất trí thúc đ y và mở rộng hợp tác đồng thời ấn định thời điểm tổ chức cuộc đàm phán đầu tiên về vấn đề hồi hương người Tamil vào cuối tháng 01/2015; nỗ lực giải quyết các bất đồng liên quan đến vấn đề dân cư... Ngay sau đó, Thủ tướng N.Modi cũng đã thăm Sri Lanka từ ngày 13 - 15/3/2015 và bày tỏ thiện chí của Ấn Độ trong chính sách đối ngoại với các nước láng giềng trong đó có Sri Lanka. + Với Afganistan: Sau khi chế độ Taliban sụp đổ (2001), Ấn Độ tuyên bố ủng hộ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phản đối nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Afganistan, đồng thời tích cực tham gia công cuộc tái thiết Afganistan. Ấn Độ luôn coi việc thúc đ y quan hệ với Afganistan là ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mình ở Nam Á. Hai bên thường xuyên trao đổi các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao, đáng chú ý nhất là chuyến thăm Afganistan của Thủ tướng M.Singh (05/2011), hai bên đã ký “Tuyên bố chung tầm nhìn đối tác chiến lược Ấn Độ - Afganistan” vạch ra lộ trình, phương hướng hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, quốc phòng an ninh, chống 96 khủng bố Đặc biệt, trong chuyến thăm Ấn Độ của Tổng thống Hamit Karzai (10/2011), hai bên đã ký “Hiệp định đối tác chiến lược” (Hiệp định đối tác chiến lược đầu tiên Afganistan ký với nước ngoài). Cả Ấn Độ và Afganistan đều là nạn nhân của các cuộc khủng bố vì vậy hợp tác về an ninh, quân sự là một trụ cột trong quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước. Theo thỏa thuận, Ấn Độ không chỉ huấn luyện, đào tạo lực lượng quân đội mà còn cung cấp một số chủng loại vũ khí trang bị cho lực lượng quân sự, an ninh và cảnh sát của Afganistan đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đất nước sau khi Mỹ và NATO rút quân khỏi Afganistan. Hiện nay Ấn Độ là một trong những nhà tài trợ lớn nhất cho Afganistan ở khu vực Nam Á cả về thiết bị quân sự, trang thiết bị y tế và các yếu ph m cần thiết khác. Năm 2015, tân Tổng thống Afganistan, ông Ashraf Ghani đã có những động thái bắt nhịp cầu với Pakistan và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan vẫn di n ra căng thẳng và Ấn Độ lo ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước láng giềng. Tuy nhiên, sau đó Tổng thống Ashraf Ghani đến thăm New Dehli 4 ngày với mong muốn Ấn Độ mở rộng vòng tay lớn đối với nhà lãnh đạo mới của một quốc gia bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh. Về phía Ấn Độ, New Dehli quan ngại sâu sắc khi Bắc Kinh ráo riết gây dựng vai trò và tăng cường ảnh hưởng đối với các nước láng giềng, quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan lại vẫn chưa được cải thiện, vì thế, Afganistan trở nên quan trọng hơn đối với Ấn Độ cả về kinh tế thương mại, chính trị và an ninh quốc phòng. 3.2.2.3. Tiếp tục triển khai thực hiện Chính sách hướng Đông Thời kỳ này Ấn Độ ráo riết triển khai Giai đoạn thứ hai (2002 - 2014) của Chính sách hướng Đông. Đây là giai đoạn được đánh dấu là “hướng Đông” mở rộng, trải dài từ Australia tới Trung Quốc và Đông Á, với ASEAN là trung tâm, trong đó hợp tác về an ninh - quốc phòng, ngoại giao văn hóa được chú trọng phát triển. Sau khi trở thành Thủ tướng của Ấn Độ (5/2014), ông N.Modi đã chuyển “Chính sách hướng Đông” thành “Hành động ở phía Đông” (Act East) cho thấy nước này đang nỗ lực biến các tuyên bố và cam kết thành hành động để nâng quan hệ đối tác với khu vực Đông Nam Á và Đông Á lên một tầm cao hơn. 97 Để đạt được mục tiêu của chính sách, tiếp sức cho công cuộc củng cố và bảo vệ độc lập, chính phủ Ấn Độ qua các thời kỳ nỗ lực không ngừng thúc đ y mối quan hệ về mọi mặt với các nước châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các nước ASEAN, thể hiện cụ thể trên một số lĩnh vực sau: Về chính trị: Ngay sau khi chính sách được triển khai, Ấn Độ và ASEAN đã thiết lập mối quan hệ đối thoại từng phần năm 1992 và nâng lên thành quan hệ đối thoại đầy đủ năm 1995. Tháng 11/2002, Hội nghị Cấp cao ASEAN - Ấn Độ lần thứ nhất được tổ chức tại Cambodia, hai bên thống nhất nâng mối quan hệ lên thành đối tác cấp cao. Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 20 năm quan hệ đối thoại ASEAN - Ấn Độ với chủ đề “Đối tác ASEAN - Ấn Độ vì hòa bình và thịnh vượng chung” được tổ chức tại New Dehli đã thông qua Tuyên bố tầm nhìn với việc nâng quan hệ đối thoại Ấn Độ - ASEAN lên thành đối tác chiến lược. Hiện nay, hai bên đã thiết lập các cơ chế đối thoại và hợp tác gồm có: Hội nghị Cấp cao, Hội nghị sau Ngoại trưởng ASEAN (PMC) trong khuôn khổ ASEAN +10 và ASEAN +1, Hội nghị thượng đỉnh Ấn Độ - ASEAN, di n đàn Khu vực ASEAN (ARF), Ủy ban Hợp tác chung Ấn Độ - ASEAN (JCC) và nhóm làm việc chung Ấn Độ - ASEAN. Cũng trong suốt hơn 25 năm qua, lãnh đạo Ấn Độ và các nước thành viên thành viên ASEAN thường xuyên trao đổi các cuộc viếng thăm của lãnh đạo cấp cao, ký hàng loạt các hiệp định, thỏa thuận hợp tác về mọi lĩnh vực, tạo điều kiện pháp lý cho Ấn Độ hợp tác sâu rộng với các nước ASEAN. Điều này giúp Ấn Độ có thêm sức bật để củng cố và bảo vệ độc lập của mình trong tình hình mới. Ngay sau khi nâng cấp “Chính sách hướng Đông” thành “Hành động ở phía Đông”, Thủ tướng N. Modi bắt đầu chuyến thăm tới khu vực Đông Nam Á, với điểm đến đầu tiên là Myanmar (11/11/2014), Thủ tướng Modi muốn chuyển đi một thông điệp rằng chính phủ của ông sẽ thực hiện các cam kết và hành động theo các tuyên bố đối tác lâu dài với khu vực, vốn đang mong muốn hoàn thành việc xây dựng Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015. Chỉ trong vòng 6 tháng đầu kể từ khi chính phủ của Thủ tướng N.Modi nhậm chức, Ngoại trưởng Sushma Swaraj đã thăm khu vực Đông Nam Á 3 lần: tới Myanmar, Singapore và Việt Nam. Các trụ cột chính trong “Hành động ở phía Đông” đã thể hiện sự tham gia mạnh mẽ của Ấn Độ đối với ASEAN ở các 98 lĩnh vực thương mại, kết nối khu vực, văn hóa, sáng tạo và giao lưu nhân dân. Về kinh tế, thương mại, đầu tư, kỹ thuật và khoa học công nghệ: Với quan hệ chính trị tốt đẹp, hàng loạt các văn kiện trên lĩnh vực kinh tế quan trọng cũng được ký kết tạo điều kiện cho hai bên phát triển hợp tác kinh tế, thương mại như: Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện năm 2003, Hiệp định tự do thương mại về hàng hóa (AITIG) năm 2009 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2010) và FTA về dịch vụ và đầu tư tháng 11/2014 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2015); hai bên khẳng định quyết tâm tham gia tích cực trong đàm phán Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); xây dựng Hành lang kinh tế Mê Kông - Ấn Độ... Việc thành lập Cộng đồng kinh tế AEC vào ngày 31/12/2015 tạo điều kiện rất lớn cho các công ty của Ấn Độ trong việc xuất kh u hàng hóa thành ph m với các nước ASEAN đồng thời giảm giá chi phí trong quá trình sản xuất cũng như các thủ tục trong việc lưu thông hàng hóa tại các quốc gia này. Hiện nay, ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Ấn Độ sau Trung Quốc, EU và Mỹ. Thương mại hai chiều năm 2000 - 2001 chỉ đạt 7 tỷ USD, năm 2004 (sau một năm ký Hiệp định khung năm 2003) đạt 13 tỷ USD, tăng lên trên 21 tỷ USD năm 2005 - 2006 và đạt 76.53 tỷ năm 2014 - 2015 (trong đó xuất kh u của Ấn Độ tới ASEAN là 25,2 tỷ USD chiếm 9,6% tổng xuất kh u của Ấn Độ và Ấn Độ nhập kh u từ ASEAN là 39,84 tỷ chiếm 10,5% tổng nhập kh u của Ấn Độ). Đầu tư trực tiếp FDI từ ASEAN vào Ấn Độ tính từ giữa tháng 4/2000 đến tháng 5/2016 là khoảng 49.40 tỷ USD, trong đó FDI từ Ấn Độ vào ASEAN từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2015 là 38.672 tỷ USD [140, tr.2]. Singapore là nước đầu tư mạnh nhất vào Ấn Độ, đứng thứ 3 trong số các nước đầu tư vào Ấn Độ, tiếp sau đó là Malaysia. Lĩnh vực chủ yếu mà ASEAN đầu tư là lĩnh vực dịch vụ, công nghệ thông tin, xây dựng... Bên cạnh đó, hai bên cùng đ y mạnh hợp tác trên các lĩnh vực không gian vũ trụ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, văn hóa, giáo dục và đối thoại nhân dân 3.2.3.Trên lĩnh vực an ninh, quốc phòng 3.2.3.1. Tiếp tục củng cố, xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng Trong giai đoạn 2001- 2015, trung bình hàng năm, chính phủ chi khoảng từ 2,3 - 3% GDP cho ngân sách quốc phòng [130, tr124], đặc biệt từ sau vụ thử hạt nhân 99 năm 1998 (năm 2001 khoảng 11,8 tỷ USD, năm 2003 - 2004 khoảng 14 tỷ USD, năm 2005 - 2006 khoảng 28 tỷ USD...). Sau cuộc tấn công khủng bố nhằm vào Mumbai năm 2008, Ấn Độ lại tăng cường thêm ngân sách cho quốc phòng đạt mức 30 tỷ USD năm 2008 và 36,3 tỷ USD cho năm 2009, Ấn Độ xếp thứ 10 trong Top 15 quốc gia đầu tư lớn cho quân sự [130, tr127]. Trong những năm tiếp theo ngân sách dành cho quốc phòng tiếp tục tăng và đến năm 2013, Ấn Độ trở thành quốc gia nhập kh u vũ khí lớn nhất thế giới (chiếm 14% ). Tháng 2/2014, Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ, ông P.Chidambaram tuyên bố sẽ tăng 10% ngân sách quốc phòng so với năm 2013 và lên tới 36,3 tỷ USD. Vào tháng 7/2014, ông Arun Jaitley, Bộ trưởng Bộ quốc phòng kiêm Bộ trưởng tài chính của Chính phủ mới đảng BJP tuyên bố, chính phủ sẽ chi 2,29 nghìn tỷ Rupees tương ứng khoảng 38,35 tỷ USD cho năm quốc phòng năm 2014 - 2015. Ấn Độ không ngừng củng cố lực lượng quân đội hùng mạnh. Đồng thời, Ấn Độ ban hành Học thuyết hàng hải ( 2004) và Học thuyết hàng hải (2009), trong đó, chú trọng vào khả năng tiến công và gây tổn thất lớn cho đối phương, khả năng hoạt động trên biển dài ngày và phạm vi hoạt động. Học thuyết này bộc lộ khát vọng vươn ra vùng biển quốc tế kể cả trong thời bình cũng như khi có xung đột, đồng thời răn đe hạt nhân đối với các nước trong và ngoài khu vực có thể đe dọa đối với an ninh Ấn Độ. Tuy nhiên, Ấn Độ vẫn cam kết thực hiện chính sách không tiến công vũ khí hạt nhân trước. Tháng 12/2015, Ấn Độ công bố Chiến lược hàng hải mới nhấn mạnh vai trò chủ chốt của Hải quân Ấn Độ trong việc đảm bảo an ninh trước những thách thức ở Ấn Độ Dương. Với tiêu đề “Đảm bảo an toàn đại dương”, Chiến lược an ninh hàng hải năm 2015 là bản cập nhật từ ấn ph m “Tự do sử dụng đại dương” (Freedom to use the Seas), nhấn mạnh đến những yếu tố quyết định đối với hoạt động của Hải quân Ấn Độ liên quan đến nhu cầu kinh tế quốc gia kết hợp với các mối đe dọa an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Ấn Độ đưa ra mong muốn đến năm 2020, Hải quân Ấn Độ có thể giữ vị thế làm chủ Ấn Độ Dương. Đây cũng là chiến lược đảm bảo cho an ninh năng lượng của quốc gia vì các dự án khai thác dầu khí đang được Ấn Độ hợp tác triển khai với các nước trên vùng biển Ấn Độ Dương. 100 3.2.3.2. Hợp tác về an ninh - quốc phòng với các nước Ấn Độ xác định, hợp tác song phương về quân sự là biện pháp để nâng cao chiến lược phòng thủ quốc gia nhằm xây dựng quan hệ hữu nghị, tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau, ngăn ngừa nguy cơ xung đột. Tăng cường hợp tác quân sự nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia trước sự xâm lược từ bên ngoài, thực hiện chiến lược quốc phòng phục vụ cho lợi ích phát triển kinh tế đất nước. Xuất phát từ đường lối trên, đặc biệt là sau Chiến tranh lạnh, Ấn Độ đã tăng cường, mở rộng hợp tác quốc phòng - an ninh với hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt các nước lớn như: Mỹ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN. Với Nga: Đây được coi là một “trụ cột quan trọng” trong “đối tác chiến lược” Nga - Ấn nhất là về kỹ thuật và công nghiệp quân sự. Từ vị trí “người mua - người bán”, hai bên đã chuyển sang hợp tác nghiên cứu, phát triển và chế tạo các loại vũ khí trang bị công nghiệp quốc phòng cao, hiện đại với những chương trình dài hạn giữa tổ hợp công nghiệp quân sự của hai nước. Cùng với việc lãnh đạo quân sự cấp cao của hai nước duy trì đều đặn cơ chế tiếp xúc thường niên, hai nước đã ký một loạt hiệp định, nghị định thư và chương trình hợp tác như: “Hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng” tạo điều kiện để Nga chuyển giao công nghệ, liên doanh sản xuất và phát triển vũ khí với Ấn Độ (2005); “Hiệp định Hợp tác kỹ thuật quân sự giai đoạn 2011 - 2020” nhằm thúc đ y nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các loại vũ khí tiên tiến nhất, trong đó bao gồm cả máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4 (2009); “Hợp đồng về bảo dưỡng vũ khí trang bị quân sự của Nga bán cho Ấn Độ” (2009); “Hiệp ước về hợp tác trong lĩnh vực sáng chế và chế tạo máy bay vận tải quân sự đa năng” (2009); “Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực vật lý mặt trời”; “Nghị định thư về hợp tác kỹ thuật quân sự” (2005 và 2011) Hai bên đã thiết lập Ủy ban Liên chính phủ về hợp tác kỹ thuật quân sự. Hiện nay, hai nước có tới hơn 300 hạng mục hợp tác kỹ thuật quân sự, trong đó có các chương trình lớn như: sản xuất tên lửa hành trình Brah Mos ở Ấn Độ; sản xuất máy bay vận tải quân sự đa năng; sản xuất máy bay tiêm kích thế hệ thứ 5 (Sukhoi T50) giữa HAL của Cục Thiết kế Sukhoi và công ty Rosoboronexport của Nga; hợp tác nghiên cứu và chế tạo tàu khu trục loại 5.000 tấn được trang bị tên lửa Brah Mos; hợp tác nghiên 101 cứu và chế tạo tàu ngầm lớp Amua (Project 751); hợp tác chia sẻ tín hiệu hệ thống định vị toàn cầu (GLONASS) của Nga phục vụ cho mục đích quân - dân sự Ấn Độ hiện là đối tác nhập kh u vũ khí trang bị lớn nhất của Nga với tổng giá trị giá 1,3 - 1,5 tỷ USD/năm. Trong suốt hơn 25 năm qua, Ấn Độ chiếm khoảng 25% tổng đơn hàng xuất kh u vũ khí của Nga[130, tr.1-3]. Ngoài cam kết giúp Ấn Độ cải tiến vũ khí trang bị do Nga sản xuất, Nga đã bán và cấp giấy phép cho Ấn Độ sản xuất hàng loạt vũ khí trang bị hiện đại. Theo thống kê của Viện nghiên cứu hòa bình thế giới Stockholm (SIPRI), từ năm 1991 đến nay, Nga đã bán cho Ấn Độ một số lượng lớn các loại vũ khí, thiết bị quân sự điển hình như: 29 máy bay chiến đầu MiG-29K Fulcrum-F (bàn giao từ năm 2012); bán 188 chiếc và chuyển giao công nghệ cho Ấn Độ lắp ráp 42 chiếc Su-30MKI; 129 trực thăng Mi-17; 16 máy bay kiêm kích hạm MiG-29K loại một người lái và 2 người lái (Ấn Độ dự kiến mua thêm 29 chiếc và chế tạo 6 chiếc theo giấy phép của Nga); bán 424 chiếc và sản xuất theo giấy phép của Nga 223 xe tăng chiến đấu T90; tên lửa phòng không S300; tàu ngầm hạt nhân... Đáng chú ý, trong chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng V.Putin (03/2010), hai bên đã đạt được thỏa thuận là Nga cải tiến tàu sân bay INS Vikramaditya, trị giá 2,35 tỷ USD cho Ấn Độ và đã hoàn thành vào tháng 11/2013. Nga cam kết tiếp tục giúp đỡ Ấn Độ đào tạo sỹ quan và kỹ sư nghiên cứu chế tạo vũ khí, chuyển giao công nghệ chế tạo máy bay Su-30MKI, xe tăng T90, tên lửa phòng không, tên lửa hành trình và hợp

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_qua_trinh_cung_co_va_bao_ve_doc_lap_dan_toc_cua_cong.pdf
Tài liệu liên quan