Luận văn Tạo động lực làm việc cho công chức phường tại thành phố Tân An, tỉnh Long An

MỞ ĐẦU. 01

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO

CÔNG CHỨC PHưỜNG.08

1.1. Một số vấn đề chung về công chức phường . 08

1.1.1.Khái niệm công chức phường . 08

1.1.2. Vai trò của công chức phường . 09

1.1.3. Yêu cầu đối với công chức phường. 11

1.2. Động lực làm việc của công chức phường . 14

1.2.1. Khái niệm động lực làm việc của công chức phường . 14

1.2.2. Vai trò động lực làm việc của công chức phường. 14

1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của công chức

phường. 15

1.3. Tạo động lực làm việc cho công chức phường . 21

1.3.1. Khái niệm tạo động lực làm việc cho công chức phường . 21

1.3.2. Sự cần thiết tạo động lực làm việc cho công chức phường. 21

1.3.3. Nội dung tạo động lực làm việc cho công chức phường. 21

1.4. Những giá trị tham khảo tạo động lực làm việc một số địa

phương. 25

Tiểu kết chương 1 . 28

Chương 2: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG

CHỨC PHưỜNG TẠI THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN . 29

2.1. Tổng quan về đội ngũ công chức phường tại thành phố Tân

An, tỉnh Long An . 29

pdf114 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 22/02/2022 | Lượt xem: 82 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Tạo động lực làm việc cho công chức phường tại thành phố Tân An, tỉnh Long An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cũng khá lớn. Công chức Chỉ huy trưởng Quân sự do chương trình đào tạo theo quy định của Quân đội nên trong quá trình đào tạo Trung cấp quân sự (do Trường Quân sự tỉnh thực hiện) có kết hợp với đào tạo trung cấp lý luận chính trị - hành chính (do Trường Chính trị tỉnh thực hiện). Trình độ chính trị còn hạn chế sẽ dẫn đến những hạn chế trong nhận thức và thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do đó yêu cầu đặt ra cho thành phố Tân An là phải nhanh chóng đảm bảo trình độ chính trị công chức phường được nâng lên, đảm bảo 100% công chức phường có trình độ trung cấp về lý luận chính trị (trừ công chức mới tuyển dụng). 2.1.5. Trình độ quản lý nhà nước Bảng 2.6. Thống kê trình độ quản lý nhà nước công chức phường, thành phố Tân An Trình độ quản lý nhà nƣớc STT Năm Số lƣợng Chƣa qua đào tạo Chuyên viên và tƣơng đƣơng Chuyên viên chính và tƣơng đƣơng 1 2014 76 64 12 0 2 2015 77 56 21 0 3 2016 76 46 30 0 4 2017 78 38 40 0 5 2018 78 31 47 0 (Nguồn: Phòng Nội vụ thành phố Tân An) 36 Theo Bảng 2.6, trình độ quản lý nhà nước của công chức phường ngày càng được nâng lên qua các năm. Tuy nhiên, trình độ quản lý nhà nước của công chức phường còn khá thấp, nhiều công chức chưa học lớp chuyên viên, lớp chuyên viên chính gần như không có. Nguyên nhân công chức chưa học lớp chuyên viên do Trường Chính trị không mở được lớp (thiếu giảng viên), công việc cơ quan nhiều nên không thể đi học các lớp tập trung. Đây là một hạn chế rất lớn dẫn đến công chức trong quá trình thi hành công vụ có thể tùy tiện, phục vụ nhân dân không tốt... Trong khi công chức phường là người tham mưu cho lãnh đạo UBND phường trong hoạt động quản lý nhà nước tùy theo chuyên môn, nhiệm vụ được giao. Nhiều hoạt động của công chức chỉ mang đậm tính chuyên môn, không thể hiện rõ yêu cầu về quản lý nhà nước. 2.1.6. Trình độ tin học, ngoại ngữ Bảng 2.7. Thống kê trình độ tin học, ngoại ngữ công chức phường, thành phố Tân An Tin học Ngoại ngữ STT Năm Số lƣợng Chứng chỉ Trung cấp trở lên Chứng chỉ Trung cấp trở lên 1 2014 76 72 0 45 0 2 2015 77 75 0 51 0 3 2016 76 76 0 60 0 4 2017 78 78 0 66 0 5 2018 78 78 0 71 0 (Nguồn: Phòng Nội vụ thành phố Tân An) 37 Bảng 2.7 cho thấy năm 2014 trình độ ngoại ngữ, tin học của công chức phường còn rất thấp. Nhiều công chức chưa sử dụng thành thạo máy vi tính, không giao tiếp được tiếng Anh khi giao tiếp với người nước ngoài. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, yêu cầu chuẩn hóa các chức danh công chức. Công chức phường đều chủ động tự đi học để nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, chủ yếu là tin học văn phòng và ngoại ngữ tiếng Anh. Năm 2018 có 100% công chức có chứng chỉ tin học theo quy định, chủ yếu công chức sử dụng máy tính để soạn thảo văn bản. Các chức danh công chức sử dụng thường xuyên, thành thạo vi tính văn phòng gồm công chức Tài chính - kế toán, công chức Văn phòng - thống kê, công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, công chức Tư pháp - hộ tịch, công chức Chỉ huy trưởng Quân sự sử dụng vi tính còn hạn chế. Nhìn chung, trình độ tin học của công chức phường nâng lên rõ rệt và sử dụng ngày càng thành thạo các công cụ internet, mạng nội bộ, thư điện tử...để giải quyết công việc. Năm 2018 có khoảng 90% công chức phường có chứng chỉ ngoại ngữ. Tuy nhiên, thực tế các công chức phường chỉ tiếp xúc với công dân Việt Nam, gần như chỉ sử dụng tiếng Việt trong thi hành công vụ, ít có thời gian rèn luyện ngoại ngữ nên không thể sử dụng thành thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh. Đối với tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số. Trên địa bàn thành phố Tân An có một số dân tộc thiểu số sinh sống cùng với người Kinh như người Hoa, Chăm, Khơ-me... Mặc dù số lượng người dân tộc thiểu số ở tỉnh Long An nói chung, thành phố Tân An nói riêng không lớn, nhưng việc công chức phường không biết tiếng dân tộc thiểu số trên địa bàn cũng dẫn đến nhiều hạn chế trong thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 38 2.2. Thực trạng động lực làm việc của công chức phƣờng tại thành phố Tân An Tác giả điều tra về động lực làm việc của công chức tại 9 phường của thành phố Tân An (phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 6, phường 7, phường Khánh Hậu và phường Tân Khánh). Sau khi kết thúc điều tra, kết quả tổng hợp phiếu điều tra, thực trạng động lực của công chức phường được thể hiện như sau: 39 2.2.1. Mức độ hài lòng với công việc 2.2.1.1. Lý do đảm nhận công việc Bảng 2.8. Thống kê lý do đảm nhận công việc của công chức phường, thành phố Tân An STT Lý do Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Yêu thích công việc 14 17,95 2 Gần nhà, đi lại thuận tiện 5 6,41 3 Phù hợp khả năng, sở trường, chuyên môn đào tạo 22 28,2 4 Có thu nhập cao 0 0 5 Tính ổn định nghề nghiệp 21 26,92 6 Cơ hội thăng tiến cao 0 0 7 Môi trường làm việc hiện đại, năng động 2 2,56 8 Được điều động, luân chuyển qua nhiều cơ quan, vị trí khác nhau 6 7,69 9 Có địa vị xã hội, được nhiều người tôn trọng 8 10,26 10 Không có sự va chạm, cạnh tranh 0 0 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) 40 Qua thống kê ở Bảng 2.8 cho thấy, lý do nhiều nhất mà công chức lựa chọn cho nghề nghiệp là sự phân công công việc phù hợp với khả năng, chuyên môn được đào tạo, chiếm 28,2%, tiếp theo là tính ổn định nghề nghiệp 26,92 %, địa vị xã hội 10,26 %...Kết quả này cũng dễ hiểu, vì khi tuyển dụng công chức thì một trong những tiêu chí quan trọng, bắt buộc là công chức được tuyển dụng phải có văn bằng được đào tạo phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn của chức danh công chức. Theo quy định tại Điều 6 Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND ngày 04 tháng 12 năm 2014 của UBND tỉnh Long An quy định tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Long An thì công chức phường phải đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau: Một là, công chức Văn phòng - thống kê: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên các ngành: hành chính - văn phòng, văn thư - lưu trữ, luật, kinh tế, khoa học xã hội và nhân văn, nhân sự, báo chí - tuyên truyền, thống kê. Hai là, công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên các ngành: địa chính, xây dựng, tài nguyên, môi trường, kinh tế xây dựng, giao thông, quy hoạch, kiến trúc, đô thị, hạ tầng kỹ thuật, thủy lợi, nông nghiệp, khuyến nông và phát triển nông thôn, lâm nghiệp, kinh tế nông lâm. Ba là, công chức Tài chính - kế toán: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên các ngành: kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh. Bốn là, công chức Tư pháp - hộ tịch: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên các ngành: luật, hành chính, công an. Năm là, công chức Văn hóa - xã hội: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên các ngành: quản lý văn hóa - thông tin, quản lý nghệ thuật, quản lý du 41 lịch, quản lý thể dục thể thao, lao động - xã hội - tiền lương, truyền thông - báo chí - tuyên truyền, khoa học xã hội và nhân văn, phát thanh - truyền hình, sư phạm ngữ văn, hành chính, luật. Sáu là, công chức Trưởng Công an cấp xã: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên các ngành: quản lý trật tự xã hội, cảnh sát, an ninh, công an, luật, sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn. Bảy là, công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã: Yêu cầu trình độ trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở trở lên, sử dụng thành thạo trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn. Tám là, đối với các chức danh công chức tăng thêm: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên và phù hợp với vị trí việc làm theo Quy định này đối với các chức danh công chức cấp xã tương ứng. Riêng chức danh Tư pháp - hộ tịch thực hiện công tác phối hợp thi hành án và đảm nhiệm Phó Trưởng Công an và chức danh Văn hóa - xã hội thực hiện công tác phối hợp tổ chức, theo dõi các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch và đảm nhiệm Phó Chỉ huy trưởng Quân sự thì tiêu chuẩn trình độ chuyên môn cụ thể như sau: Công chức Tư pháp - hộ tịch thực hiện công tác phối hợp thi hành án và đảm nhiệm Phó Trưởng Công an: Yêu cầu trình độ trung cấp trở lên các ngành công an, luật, sử dụng thành thạo các trang thiết bị phù hợp với ngành chuyên môn. Công chức Văn hóa - xã hội thực hiện công tác phối hợp tổ chức, theo dõi hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch và đảm nhiệm Phó Chỉ huy trưởng Quân sự: Yêu cầu trình độ trung cấp chuyên nghiệp ngành quân sự cơ sở trở lên, sử dụng thành thạo trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn. Đối với những chuyên ngành đào tạo mới phát sinh, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức cấp xã được tuyển dụng nhưng chưa 42 được quy định thì UBND cấp huyện thỏa thuận thống nhất bằng văn bản với Sở Nội vụ trước khi tổ chức tuyển dụng. Điều này sẽ tạo ra động lực làm việc cho công chức phường, ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn ngành nghề của công chức phường cũng như thu hút được nhân tài vào làm công chức ở phường. 2.2.1.2. Mức độ hài lòng với công việc Bảng 2.9. Mức độ hài lòng công việc của công chức phường, thành phố Tân An STT Mức độ Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Rất hài lòng 2 2,56 2 Hài lòng 60 76,92 3 Không hài lòng 16 20,51 4 Rất không hài lòng 0 0 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) Theo kết quả khảo sát Bảng 2.9, có 76,92% công chức hài lòng với công việc, 2,56% công chức rất hài lòng với công việc, 20,51% công chức không hài lòng với công việc, không có công chức chọn rất không hài lòng với công việc. Như vậy, mức độ hài lòng của công chức phường đối với nghề nghiệp của mình là rất cao. Từ đó cho thấy, đa số công chức phường có thể gắn bó lâu dài với cơ quan nhà nước, với nghề nghiệp của mình. Tuy nhiên, nhà nước cần phải 43 không ngừng quan tâm, chăm lo quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công chức phường để duy trì động lực làm việc cho họ. 2.2.2. Mức độ hài lòng với vị trí trong xã hội Bảng 2.10. Mức độ hài lòng với vị trí trong xã hội của công chức phường, thành phố Tân An STT Mức độ hài lòng Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Rất hài lòng 20 25,64 2 Hài lòng 48 61,53 3 Không hài lòng 11 14,10 4 Rất không hài lòng 0 0 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) Theo kết quả khảo sát Bảng 2.10, có 61,53% công chức hài lòng với vị trí trong xã hội, 25,64% công chức rất hài lòng với vị trí trong xã hội, 14,10 % công chức không hài lòng với vị trí trong xã hội, không có công chức chọn rất không hài lòng với vị trí trong xã hội. Như vây, mức độ hài lòng của công chức phường đối với vị trí của mình trong xã hội là rất cao. Kết quả này có được là do công chức phường và nhân dân ngày càng thấy rõ tầm quan trọng của công chức nói chung, công chức phường, thành phố Tân An nói riêng đối với yêu cầu phục vụ nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội thành phốTân An. 44 2.2.3. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao 2.2.3.1. Thời gian làm việc nơi công sở Bảng 2.11. Số ngày làm việc của công chức phường, thành phố Tân An STT Thời gian Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Trên 5 ngày 6 7,69 2 5 ngày 12 15,38 3 4 – dưới 5 ngày 60 76,92 4 3 – dưới 4 ngày 0 0 5 2 – dưới 3 ngày 0 0 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) Theo kết quả khảo sát ở Bảng 2.11, phần lớn công chức được hỏi chưa sử dụng hết thời gian làm việc 5 ngày/1 tuần (không tính ngày thứ bảy và chủ nhật) để giải quyết công việc của cơ quan. Có 76,92% công chức làm việc từ 4 - dưới 5 ngày, thấp hơn quy định của nhà nước, một số ít công chức làm hơn 5 ngày. 45 Bảng 2.12. Số giờ làm việc trong ngày của công chức phường, thành phố Tân An STT Thời gian làm việc Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Trên 8 giờ 6 7,69 2 8 giờ 12 15,38 3 7 – dưới 8 giờ 56 71,79 4 6 – dưới 7 giờ 4 5,13 5 Dưới 6 giờ 0 0 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) Giờ làm việc của công chức theo quy định của Nhà nước là 1 ngày làm 8 giờ. Tuy nhiên, công chức có nhiều lý do để không thực hiện đúng, đủ thời gian làm việc là 8 giờ 1 ngày như đi trễ, về sớm rước con, cảm thấy bị bệnh không thể làm việc tiếp, đi đám tiệc ... Bảng 2.12 cho thấy số giờ làm việc của công chức bị mất đi trong 1 ngày làm việc cụ thể có thể khác nhau, có khi nhiều khi ít. Nếu tính thời gian làm việc của công chức là 22 ngày/1 tháng thì cứ 1 tuần công chức có thể không làm việc 0,5 - 1 ngày, trong 1 tháng công chức có thể không làm việc tối đa là 4 ngày (4 tuần/1 tháng). Tuy nhiên, công chức vẫn được hưởng lương và các chế độ khác một cách đầy đủ. 46 Bảng 2.13. Nguyên nhân công chức phường, thành phố Tân An không dành hết thời gian cho công việc STT Nguyên nhân Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Công việc quá nhàm chán 2 2,56 2 Không có ai kiểm tra, giám sát 11 14,1 3 Làm việc riêng cho bớt căng thẳng 9 11,54 4 Không có cơ hội thăng tiến 21 26,92 5 Ra ngoài làm kiếm thêm thu nhập 4 5,13 6 Không được bố trí công việc phù hợp 6 7,69 7 Có làm nhiều, làm giỏi cũng không được khen thưởng 13 16,67 8 Bận đưa rước con nhỏ đi học 6 7,69 9 Gia đình đơn chiếc, có người bệnh, thiếu người chăm sóc 3 3,84 10 Không đủ sức khỏe để làm việc 3 3,84 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) Qua số liệu thống kê ở Bảng 2.11, Bảng 2.12 và thực tế khảo sát công chức phường ở Bảng 2.13 cho thấy nguyên nhân chủ yếu công chức còn tình trạng sử dụng thời giờ làm việc của nhà nước vào mục khác như sau: không 47 có cơ hội thăng tiến 26,92 %, làm tốt không được khen thưởng 16,67 %, thiếu sự kiểm tra, giám sát 14,1%, có con nhỏ phải đưa rước đi học 7,69%... 2.2.3.2. Mức độ nỗ lực thực hiện công việc Bảng 2.14. Mức độ nỗ lực thực hiện công việc của công chức phường, thành phố Tân An STT Mức độ thực hiện Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Nỗ lực cao 58 74,36 2 Nỗ lực trung bình 20 25,64 3 Nỗ lực ít 0 0 4 Không nỗ lực 0 0 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) Theo kết quả khảo sát Bảng 2.14, có 58 công chức được hỏi trả lời là nỗ lực cao trong công việc, chiếm 74,36% và 20 công chức trả lời nỗ lực trung bình trong công việc, chiếm 25,64%, không có công chức nỗ lực ít và không nỗ lực. Trên thực tế vẫn còn tình trạng không ít công chức vẫn chưa cố gắng nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ đươc giao, biểu hiện cụ thể của sự không nỗ lực là giải quyết công việc còn sai thủ tục, gây phiền hà, nhũng nhiễu, cửa quyền, hách dịch, thiếu tôn trọng nhân dân và đồng nghiệp, thiếu trách nhiêm, không chịu khó học tập để nâng cao trình độ... 48 2.2.3.3. Mức độ xếp loại hoàn thành công việc Bảng 2.15. Mức độ hoàn thành công việc của công chức phường, thành phố Tân An STT Năm Số lƣợng công chức Mức độ hoàn thành công việc Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Hoàn thành tốt nhiệm vụ Hoàn thành nhiệm vụ nhƣng hạn chế về năng lực Không hoàn thành nhiệm vụ Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ % Số lƣợng Tỷ lệ % Không hoàn thành nhiệm vụ 1 2014 76 6 7,89 70 92,11 0 0 0 2 2015 77 9 11,69 68 88,31 0 0 0 3 2016 76 10 13,16 66 86,84 0 0 0 4 2017 78 12 15,38 66 84,61 0 0 0 5 2018 78 15 19,23 63 80,77 0 0 0 (Nguồn: Phòng Nội vụ thành phố Tân An) Kết quả ở Bảng 2.15 cho thấy mức độ hoàn thành công việc của công chức phường, thành phố Tân An tăng lên qua các năm, nhưng chủ yếu trong năm 2018 còn các năm trước khá tương đồng. Từ 2014-2017 tỷ lệ công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tăng từ 7,89% - 15,38%, tỷ lệ hoàn thành tốt 49 nhiệm vụ 80,61%, không có công chức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực, không có công chức không hoàn thành nhiệm vụ. Năm 2018 chỉ có công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 19,23% và công chức hoàn thành tốt nhệm vụ 80,77%, không có công chức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực, không có công chức không hoàn thành nhiệm vụ. Nguyên nhân chủ yếu của kết quả đánh giá ở Bảng 2.15 là do công tác đánh giá công chức còn mang tính hình thức, nể nang, cào bằng. 2.2.4. Đánh giá động lực làm việc của công chức phường tại thành phố Tân An 2.2.4.1. Ưu điểm Một là, hệ thống văn bản pháp luật quy định các vấn đề có liên quan đến động lực làm việc của công chức tương đối đầy đủ như chính sách tuyển dụng, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, luân chuyển công chức... Hai là, nhìn chung công chức phường được bố trí phù hợp với chuyên môn được đào tạo, gắn bó lâu dài với công việc, cảm thấy yêu thích công việc và không có ý định chuyển đổi nghề nghiệp. Ba là, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được đảm bảo theo hướng tích cực, lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền địa phương, nhất là đội ngũ công chức ở phường ngày càng nhiều hơn. 2.2.4.2. Hạn chế Một là, còn tình trạng công chức phường không sử dụng hết thời gian làm việc vào thi hành công vụ, còn nhiều biểu hiện cho thấy tinh thần làm việc thiếu tích cực của công chức phường như đi trễ, về sớm, chơi game, nói chuyện phiếm...trong giờ làm việc. 50 Hai là, còn tình trạng công chức phường không nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt công việc mà làm việc còn chậm chạp, từ từ không phải vội, mắc nhiều sai sót, không có sự sáng tạo... Ba là, một vấn đề đặt ra đối với công chức phường hiện nay là công chức phường phải đối mặt với áp lực của cuộc sống, giá cả không ngừng tăng cao, chi phí nhiều trong khi thu nhập thì không tăng. Từ đó, nhiều công chức phải lo đi làm thêm như tham gia môi giới bất động sản, trồng thanh long, mở rộng chuồng trại chăn nuôi heo, bò..để tăng thêm thu nhập. Với mức thu nhập hiện nay nhà nước chi trả không thỏa mãn được nhu cầu cuộc sống bản thân và gia đình công chức phường. Bốn là, hiện nay công chức phường được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Họ không phải lo thất nghiệp. Lương thì cứ đến niên hạn là tăng theo quy định, theo lộ trình. Do đó, nhiều công chức phường còn mang nặng tâm lý làm việc bình thường, không cần nỗ lực, làm việc sau không bị xử lý kỷ luật, cuối năm xét thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ là được. Chính điều đó làm cho công chức không còn sự ham muốn sáng tạo để đem lại hiệu quả cao trong công việc, rập khuôn theo một quy trình đã có sẵn khi thi hành công vụ. Năm là, một số công chức lớn tuổi, có nhiều kinh nghiệm, lương và thu nhập khác ngoài lương thì cao nhưng không làm việc hiệu quả. Một số công chức còn trẻ tuổi đời, tuổi nghề, chịu khó làm việc và có tiềm năng phát triển thì bị chèn ép, giao nhiều việc không phải việc của mình, lâu dần họ chỉ đến cơ quan chứ không chịu nỗ lực làm việc. Bởi vì động lực làm việc của các công chức ít tuổi đã không còn nữa. 2.3. Thực trạng tạo động lực làm việc cho công chức phƣờng tại thành phố Tân An 51 2.3.1. Sự quan tâm của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tại tỉnh Long An Theo Nghị quyết số 26/2011/NQ-HĐND ngày 3 tháng 10 năm 2011 của HĐND tỉnh Long An (Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010-2015) và Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 14/7/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển thành phố Tân An giai đoạn 2011- 2020) đến năm 2020 thì: Một là, thành phố Tân An nghiên cứu xây dựng và triển khai Đề án Chính quyền đô thị, xây dựng cơ chế phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh trong việc thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đã đề ra nhằm xây dựng và phát triển thành phố Tân An xứng tầm là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật của tỉnh. Hai là, xây dựng đề án thành lập 2 - 3 phường mới. Ba là, phát huy tốt vai trò và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung áp dụng công nghệ quản lý hiện đại, tin học hoá công tác quản lý phù hợp với Kế hoạch Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh, nâng cao ý thức, trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức với tinh thần hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đẩy mạnh công tác “Dân vận chính quyền” trong các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức. Các cấp chính quyền phải xác lập tiêu chí “xây và chống”, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng công vụ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, góp phần giải quyết khó khăn, vướng mắc phát sinh, thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội. Ngày 04 tháng 12 năm 2014, UBND tỉnh Long An đã ban hành Quyết định số 57/2014/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định quản lý công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Long An. Quy định này quy định về quản lý công 52 chức xã, phường, thị trấn (công chức cấp xã), bao gồm: Phân cấp quản lý, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, tuyển dụng, điều động, tiếp nhận, tập sự, đánh giá và xử lý kỷ luật đối với công chức cấp xã. Đây là cơ sở pháp lý trực tiếp để tỉnh Long An nói chung, UBND thành phố Tân An nói riêng quản lý nhà nước đối với công chức cấp xã. 2.3.2. Tiền lương và các chế độ đãi ngộ cho công chức phường 2.3.2.1. Tiền lương Hiện nay, thu nhập chính của công chức phường là tiền lương. Công thức tính tiền lương cho công chức phường đang được áp dụng là: mức lương cơ sở (hiện nay là 1.390.000 đồng) nhân với hệ số lương. Bảng 2.16. Mức độ hài lòng của công chức phường đối với tiền lương hiện nay STT Mức độ hài lòng Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Rất hài lòng 16 20,51 2 Hài lòng 29 37,18 3 Không hài lòng 33 42,31 4 Rất không hài lòng 0 0 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) Theo kết quả điều tra Bảng 2.16, có 42,31% công chức không hài lòng với mức lương hiện nay, 37,18% công chức hài lòng, 20,51% công chức rất hài lòng với mức lương hiện nay, không có công chức chọn rất không hài lòng . Như vậy, phần lớn công chức phường chưa hài lòng với mức lương mà nhà nước chi trả. 53 Nguyên nhân công chức phường không hài lòng với mức tiền lương là chính sách tiền lương của nhà nước đối với đội ngũ công chức nói chung, công chức phường ở thành phố Tân An nói riêng còn nhiều bất cập. Cụ thể là: Việc trả lương cho công chức hiện nay còn dựa vào hệ thống thang bảng lương do Chính phủ quy định, không căn cứ vào kết quả thực hiện công việc của công chức. Khi được hỏi về mối quan hệ giữa tiền lương nhận được và kết quả thực hiện công việc được giao, có 84,62% công chức phường chọn đáp án rất ít, có 15,38 % công chức phường chọn đáp án ít, không có ai chọn đáp án nhiều và rất nhiều. Như vậy, công chức làm nhiều hay làm ít, làm tích cực hay không tích cực, làm tốt hay không tốt cũng bị xem là như nhau. Điều này sẽ làm mất đi động lực làm việc của công chức phường. Bảng 2.17. Đánh giá của công chức phường, thành phố Tân An đối với căn cứ tiền lương phải dựa vào kết quả thực hiện công việc STT Mức độ căn cứ Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Rất nhiều 0 0 2 Nhiều 0 0 3 Ít 12 15,38 4 Rất ít 66 84,62 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) 54 2.3.2.2.Phụ cấp Phụ cấp của công chức phường còn thấp so các ngành nghề tương đương về trình độ trên cùng địa bàn thành phố Tân An. Qua bảng thống kê ở Bảng 2.18 cho thấy chỉ có 3,85% trả lời cao hơn, 30,77% trả lời tương đương, 65,38 % trả lời thấp hơn. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho công chức cảm thấy chán nản, không được quan tâm đúng mức, có tâm lý không muốn làm việc hết mình. Bảng 2.18. Đánh giá của công chức phường, thành phố Tân An đối với phụ cấp so sánh các ngành nghề khác trên địa bàn STT Mức độ đánh giá Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Cao hơn 3 3,85 2 Tương đương 24 30,77 3 Thấp hơn 51 65,38 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) 2.3.2.3.Phúc lợi Theo Bảng 2.19, nhiều công chức phường được hỏi về chế độ phúc lợi tỏ ra không hài lòng với chế độ phúc lợi hiện nay. Thực tế, các chế độ phúc lợi như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được thực hiện đầy đủ. Tuy nhiên các khoản phúc lợi tự nguyện còn rất hạn chế, không có giá trị về vật chất, chỉ có động viên tinh thần và không thường xuyên. 55 Bảng 2.19. Sự hài lòng của công chức phường, thành phố Tân An đối với chế độ phúc lợi STT Mức độ hài lòng Số công chức chọn đáp án Tỷ lệ % 1 Rất hài lòng 0 0 2 Hài lòng 55 70,51 3 Không hài lòng 23 29,49 (Nguồn: theo kết quả khảo sát của tác giả tại thành phố Tân An, tháng 01/2019) 2.3.2.4. Khen thưởng Bảng 2.20. Sự hài lòng của công chức phường, thành phố Tân An đối với tiền khen thưởng S

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_tao_dong_luc_lam_viec_cho_cong_chuc_phuong_tai_than.pdf
Tài liệu liên quan