Luận văn Vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp ở bậc trung học phổ thông

LỜI CẢM ƠN . 1

LỜI CAM ĐOAN . 2

MỤC LỤC . 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT. 5

MỞ ĐẦU. 6

1. Lí do chọn đề tài .6

2. Lịch sử nghiên cứu đề tài.7

3. Mục đích, đối tượng của đề tài.12

4. Phương pháp nghiên cứu.13

5. Đóng góp của luận văn.14

6. Cấu trúc của luận văn.14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. 15

1.1. Cơ sở lí luận .15

1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học.15

1.1.2. Cơ sở tâm lý - ngôn ngữ.15

1.1.3. Cơ sở giáo dục học .16

1.1.4. Lý thuyết về giao tiếp và hoạt động giao tiếp .16

1.1.5. Khái niệm phương pháp giao tiếp trong dạy học .27

1.2. Cơ sở thực tiễn.28

1.2.1. Vị trí, đặc điểm của phân môn ngữ pháp .28

1.2.2. Mục tiêu của việc dạy phân môn ngữ pháp.30

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ PHÁP THEO QUAN ĐIỂM GIAO

TIẾP. 32

2.1. Dạy học theo quan điểm giao tiếp là gì?.32

2.2. Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong dạy học ngữ pháp.33

2.2.1. Khái quát nội dung chương trình ngữ pháp bậc THPT.33

2.2.2. Quan điểm giao tiếp với nội dung dạy học ngữ pháp bậc THPT.34

2.2.3. Quan điểm giao tiếp với việc lựa chọn sử dụng các phương pháp dạy học ngữ

pháp .40

2.2.4. Quan điểm giao tiếp với việc lựa chọn, sử dụng các hình thức tổ chức dạy học

ngữ pháp. .51

2.2.5. Quan điểm giao tiếp với việc kiểm tra, đánh giá.58

2.3. Ưu điểm của việc vận dụng quan điểm giao tiếp.60

pdf133 trang | Chia sẻ: mimhthuy20 | Ngày: 24/09/2020 | Lượt xem: 323 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp ở bậc trung học phổ thông, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hương pháp ứng dụng - Mô tả PP Dạy học theo phương pháp ứng dụng là dạy HS cách tổ chức giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả những tình huống điển hình và những tình huống cụ thể. HS vận dụng lý thuyết được học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình sản sinh lời nói,ứng dụng vào thực tế cuộc sống, trong sinh hoạt hằng ngày là mục đích của việc dạy học, là nguyên tắc chỉ đạo việc dạy học, đồng thời là phương tiện để tổ chức các hoạt động học tập của HS. - Cách tiến hành Bảng 1.4. Bảng các bước tiến hành PP ứng dụng Các bước Hoạt động của GV và HS Chuẩn bị, thao tác của GV 1 GV nêu câu hỏi, đưa ra tình huống thực hành cụ thể - Chọn nội dung học theo PP ứng dụng - Chuẩn bị câu hỏi, vấn đề để HS tìm hiểu. - Lưu ý HS về kỹ năng trình bày, về nội dung phải thiết thực, phù hợp với vấn đề đặt ra 2 HS suy nghĩ, dựa vào hoàn cảnh giao tiếp để giải quyết vấn đề - GV dẫn dắt lớp hoạt động: khuyến khích HS suy nghĩ, trình bày tích cực 3 Cả lớp lắng nghe, lựa chọn cách giải quyết tình huống tốt nhất GV định hướng HS bình xét. 4 GV nhận xét, đánh giá chung - Yêu cầu sư phạm + Với PP ứng dụng, GV phải chú trọng đưa bài học vào những huống thực hành giao tiếp nghe, nói, đọc, viết cụ thể, giúp HS sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện có hiệu quả trong việc học tập. 50 + GV phải lựa chọn kiến thức, tài liệu dạy học sao cho phù hợp với thực tiễn giao tiếp (phù hợp với đối tượng, lứa tuổi, thời đại..). Chú ý đến quá trình tiếp nhận và sản sinh lời nói trong giao tiếp bằng ngôn ngữ viết. + Khi HS rèn luyện kỹ năng tiếp nhận lời nói, các em không chỉ căn cứ trên phương tiện ngôn ngữ mà còn cần dựa vào nhiều nhân tố khác liên quan đến hiệu quả nghe, đọc. Đó là: sự chi phối của ngữ cảnh, sự chi phối của các yếu tố kèm lời, sự chi phối của những hiểu biết chung giữa các nhân vật giao tiếp. Khi HS luyện tập sản sinh lời nói, GV cần chú ý tạo nhu cầu, tâm thế, môi trường giao tiếp cho HS, luyện tập sản sinh lời nói ở tất cả các thể loại ngôn bản. Tuy khác nhau ở quy trình và thao tác, nhưng hoạt động sản sinh và hoạt động tiếp nhận lời nói giống nhau ở chỗ đều cần được đánh giá kết quả để có sự phản hồi và điều chỉnh kịp thời. Ví dụ: Khi dạy bài “Nghĩa của câu”, GV có thể đưa ra tình huống: Hãy hỏi một người bạn thân của bạn lý do hôm qua bạn ấy nghỉ học, thể hiện rõ thái độ của người hỏi và người trả lời. GV yêu cầu HS viết câu hỏi và câu trả lời vào giấy nhỏ, sau đó thu lại và chọn 5 mẫu đối thoại để phân tích. GV giúp HS phân tích những câu trả lời dựa vào những tiêu chí sau: - Sự việc trong câu là gì? - Người nói trong câu có thái độ gì? - Yếu tố nào thể hiện những thái độ đó? - Nghĩa tình thái trong câu là gì? GV chốt lại vấn đề: Nghĩa tình thái thể hiện thái độ và sự đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu hoặc đối với người đối thoại: nghĩa tình thái hướng về sự việc, nghĩa tình thái hướng về người đối thoại. Ngoài việc ứng dụng trong các tình huống giao tiếp ở dạng nói thì GV có thể đưa ra những bài tập mang tính ứng dụng những lý thuyết được học bằng hệ thống bài tập viết đoạn văn, bài văn có sử dụng các kiểu câu đã học. Điều này giúp HS rèn luyện kỹ năng giao tiếp ở dạng viết. - Ưu điểm: 51 + PP ứng dụng giúp HS rèn luyện kỹ năng tiếp nhận và sản sinh lời nói sau khi đã học lý thuyết. Những tình huống, vấn đề phù hợp với thực tế cuộc sống sẽ rất thiết thực để các em HS tự điều chỉnh khả năng giao tiếp của mình. - Nhược điểm: + PP ứng dụng yêu cầu GV phải sáng tạo nhiều tình huống, bài tập ngoài SGK phù hợp với nhu cầu và mục đích giao tiếp mà giờ học theo quy định chỉ có 45 phút nên rất dễ cháy giáo án. Những PP được trình bày ở trên đều có những ưu điểm, nhược điểm nhất định, không một PP nào là toàn vẹn ưu điểm. GV khi dạy học phải biết căn cứ vào mục tiêu bài học, nội dung kiến thức và đặc điểm HS mà vận dụng linh hoạt các PP để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất. Những PP được trình bày ở trên đều có những ưu điểm, nhược điểm nhất định, không một PP nào là toàn vẹn ưu điểm. GV khi dạy học phải biết căn cứ vào mục tiêu bài học, nội dung kiến thức và đặc điểm HS mà vận dụng linh hoạt các PP để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất. 2.2.4. Quan điểm giao tiếp với việc lựa chọn, sử dụng các hình thức tổ chức dạy học ngữ pháp. Khi tổ chức dạy bất kì một đơn vị ngôn ngữ nào chúng ta không dạy một cách cô lập mà tìm cách đưa nó vào hoạt động giao tiếp. TV cần được xem xét trong hoạt động giao tiếp vì chỉ có trong giao tiếp bản chất của các hiện tượng ngôn ngữ mới được thể hiện đầy đủ nhất. Cụ thể dạy một đơn vị thì cần đặt nó vào đơn vị bậc cao hơn để người học nhận biết rõ bản chất cũng như quy tắc hoạt động của đơn vị ngôn ngữ đó. Ví dụ: dạy từ thì đặt từ trong câu trong bài, dạy câu thì đặt câu vào trong đoạn trong bài, dạy đoạn thì đặt đoạn vào trong bài. Bên cạnh đó, trong dạy học TV, GV cần phải lưu ý đặt hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu trong quan hệ với các nhân tố giao tiếp như hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp Ví dụ: khi hướng dẫn bài “Nghĩa của câu”, GV cần đặt các ví dụ, bài tập trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để HS phân tích, rút ra những nhận thức cần thiết khi giao tiếp. Cùng với việc vận dụng những phương pháp theo định hướng giao tiếp thì GV cần kết hợp, lồng ghép những hình thức tổ chức dạy ngữ pháp bằng các hoạt động giao tiếp của 52 chính bản thân người học: Đây là những hình thức mà người học chính là nhân vật giao tiếp, làm chủ hoàn cảnh giao tiếp, thực hiện quá trình sản sinh lời nói để truyền đạt vấn đề một cách hiệu quả nhất. Để làm được điều đó, GV cần tổ chức lớp học theo các hình thức sau: 2.2.4.1. Tổ chức cho HS thuyết trình nội dung bài học tại lớp. Trong tiết học, nếu GV thuyết giảng nhiều quá sẽ dễ làm HS có những biểu hiện tiêu cực như lo ra, uể oải, buồn ngủ. Để có giờ học tích cực hơn, người dạy phải trao cơ hội được nói cho người học bằng các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với tình hình lớp, với đặc điểm bài học; tổ chức cho HS thuyết trình là một trong những hình thức dạy học vừa phát huy được tính tích cực học tập vừa rèn luyện được những kĩ năng cần thiết ở người học. Tổ chức cho HS thuyết trình một nội dung thuộc bài học sẽ giúp HS có tinh thần học tập tích cực, rèn luyện kĩ năng sắp xếp ý, phát biểu ý kiến trước tập thể. Bởi vì để cho HS thuyết trình là GV để cho các em chủ động chuẩn bị nội dung (theo yêu cầu), chủ động trình bày và trao đổi với nhau; GV chỉ là người đóng vai trò ra yêu cầu, hướng dẫn cách thức chuẩn bị, khi cần thiết thì phân công trình bày chứ không trực tiếp tham gia chuẩn bị và trả lời thay học trò. Tiết học có tổ chức thuyết trình sẽ hứng thú, sôi nổi hơn vì sự đa dạng của người trình bày, sự phong phú của các ý kiến, sự gần gũi cởi mở của không khí học tập. Tuy vậy, hình thức dạy học này đòi hỏi GV một bản lĩnh đứng lớp để can thiệp kịp thời khi những tranh luận đi lệch mục tiêu dạy học. Để có một buổi thuyết trình thành công, GV cần hướng dẫn HS thực hiện một số việc cần thiết sau: + Công việc đầu tiên của GV là phân nhóm, nhóm từ 4 đến 6 HS, yêu cầu các nhóm đồng đều nhau về chất lượng, tỷ lệ HS yếu, khá, giỏi ở các nhóm như nhau. + GV là hướng dẫn HS về cách thu thập thông tin và xây dựng cấu trúc bài thuyết trình. Cách hướng dẫn cụ thể như sau: xác định rõ ràng chủ đề của bài thuyết trình; lên sơ thảo dàn ý cho bài thuyết trình (bài có bao nhiêu phần, mỗi phần gồm mấy phần nhỏ); lập dàn ý chi tiết; sắp xếp chỉnh sửa các ý cho phù hợp với tiến trình bài nói và hợp logic; biên tập lại câu chữ, bỏ các ý thừa, bổ sung ý thiếu, xem xét cách chuyển ý giữa các nội dung; đọc lại bài lần nữa, viết một bản tóm tắt gợi ý ngắn gọn để xem trong lúc thuyết trình (để dễ nhớ lại và tránh việc đọc lại nguyên văn bài thuyết trình). GV cần hướng dẫn HS các bước chuẩn bị trên để đảm bảo nội dung bài thuyết trình đúng trọng tâm, đầy đủ và rõ ràng. Cấu 53 trúc của bài thuyết trình gồm: phần mở đầu- giới thiệu mục đích, lợi ích mà bài thuyết trình mang lại cho người nghe, mở bài cần ấn tượng để thu hút người nghe; phần nội dung: là phần chính của bài thuyết trình, trình bày những nội dung đã chuẩn bị về vấn đề; phần kết: tóm tắt lại nội dung đã trình bày, chốt lại những ý chính mà người nghe cần nhớ, cảm ơn người nghe. + GV hướng dẫn HS cách luyện tập. GV chỉ cho các em các cách luyện nói như: tập nói chậm và rõ ràng, tập nói trong thời gian quy định, lưu ý các em là nói, trình bày cho các bạn hiểu, chứ không phải đọc văn bản, đồng thời với lời nói là các hành động, cử chỉ phi ngôn ngữ, giúp bài thuyết trình trở nên sinh động, lôi cuốn hơn. + GV cũng cần phổ biến cho HS các tiêu chí đánh giá bài thuyết trình như: nội dung, cách trình bày, phong cách thuyết trình. Có được các tiêu chí, HS sẽ định hướng việc nghiên cứu, chuẩn bị và thuyết trình bài học một cách có trọng tâm. Sau các bước chuẩn bị được thực hiện từ đầu năm học như trên, tùy theo nội dung và yêu cầu của bài học mà GV đưa ra bài tập cho các nhóm, phần bài tập nên giao theo hình thức bốc thăm để đảm bảo sự công bằng. Để các bài thuyết trình đạt chất lượng tốt, GV nên giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm chuẩn bị trước ít nhất 1 tuần. Khuyến khích các em đưa nội dung bài học ngữ pháp của mình vào những tình huống và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, bởi hầu hết các bài ngữ pháp trong chương trình THPT là thực hành. Từ đó, hình thức thuyết trình sẽ được các em vận dụng linh động thông qua các phương tiện như trình chiếu Powerpoint, xây dựng tình huống giao tiếp, thuyết minh về tranh ảnh.để làm nổi bật nội dung bài học. Ví dụ: Khi tìm hiểu bài “Thực hành một số kiểu câu trong văn bản”. GV tổ chức lớp học thành 3 nhóm tìm hiểu ba kiểu câu trong bài, yêu cầu các nhóm phân tích các ví dụ, đúc kết cấu tạo ngữ pháp của các kiểu câu, đồng thời đưa ví dụ thêm về các tình huống giao tiếp trong cuộc sống để so sánh sự khác nhau khi có sử dụng hoặc không sử dụng các kiểu câu đó. Mỗi nhóm có 10 phút để trình bày. GV theo dõi, nhận xét và tổng kết nội dung chính của bài học Các bước lên lớp theo trình tự tiết học như sau: + Ổn định tổ chức lớp, kiểm tra bài cũ. 54 + Giới thiệu bài mới, sau đó, GV mời lớp phó học tập lên điều khiển buổi học, nhắc lại nhiệm vụ thuyết trình đã được giao trước cho các nhóm. + Các nhóm lần lượt lên thuyết trình nội dung đã chuẩn bị, lớp phó học tập chịu trách nhiệm nhắc nhở các nhóm khác theo dõi, ghi chép để trao đổi thảo luận trong thời gian quy định + GV có thể gợi ý hoặc giải quyết những vấn đề chưa được các nhóm giải đáp, sau đó chốt lại những nội dung trọng tâm, định hướng nội dung kiến thức của toàn bài mà các em cần phải nắm. + Sau khi tổng kết bài học, GV nhận xét, đánh giá bài thuyết trình của mỗi nhóm theo tiêu chí đã đặt ra, chỉ rõ ưu, khuyết điểm đồng thời cần có những động viên, khích lệ đúng mực để những buổi học sau đạt hiệu quả cao hơn. 2.2.4.2. Tổ chức cho hoc sinh làm bài tập theo định hướng giao tiếp Bài tập Tiếng Việt được coi như là một trong những đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học Tiếng Việt. Thông qua việc thiết kế bài tập và hướng dẫn HS làm bài tập, GV có thể kiểm tra kết quả hoạt động dạy của mình, HS củng cố được các tri thức vừa tiếp nhận và nắm vững các kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Thực hành các bài tập Tiếng Việt là một khâu trọng yếu có ý nghĩa quyết định đối với viêc hình thành kỹ năng sử dụng tiếng Việt và ứng dụng tiếng Việt trong đời sống của HS. Bởi vậy, bài tập TV nói chung và bài tập ngữ pháp nói riêng được thiết kế dưới ánh sáng của lý thuyết giao tiếp sẽ thiết thực, hiệu quả hơn đối với GV và HS phổ thông. Việc thiết kế bài tập ngữ pháp cần đảm bảo những định hướng sau: -Bài tập phải gắn với hoạt động giao tiếp của HS. Cần đặt bài tập vào những hoạt động giao tiếp cụ thể để quan sát, thể nghiệm. -Khi thiết kế bài tập ngữ pháp cho HS, GV cần phải tạo được tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp, nên đưa ra những tình huống hấp dẫn, được các em quan tâm và ham thích thảo luận. Có thể nói, thiết kế bài tập ngữ pháp theo hướng giao tiếp là phải tạo ra một môi trường hợp lý và hấp dẫn để học sinh giao tiếp với nhau. - Trong hệ thống bài tập, cần chỉ rõ cho HS hướng giao tiếp khi tiến hành áp dụng các tri thức Tiếng Việt nhằm định hình trước cho các em tác dụng của việc thực hiện các bài tập Tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp của bản thân. Điều này có nghĩa là: với một bài tập cụ 55 thể, sau khi thực hành, các em sẽ rút ra hoặc củng cố một tri thức tiếng Việt hoặc một kỹ năng sử dụng tiếng Việt cụ thể. Tri thức, kỹ năng ấy sẽ được các em sử dụng để nói và viết, giúp các em định hướng: nói (viết) với ai? trong hoàn cảnh nào? Ví dụ: Khi dạy bài “Nghĩa của câu”, GV cần đặt ra những bài tập, tình huống gần gũi với cuộc sống, mang tính ứng dụng cao như: phát hiện phần nghĩa tình thái trong các câu sau: “Đằng nào cũng phải về cơ mà. May ra có lẽ mợ không mắng đâu” (Thach Lam) hay “ Giá họ đừng hiền lành như thế còn hơn” (Xuân Diệu). Hoặc khi nhấn mạnh tác dụng, vai trò của ngữ cảnh, GV có thể đưa ra bài tập: Hãy xác định nghĩa của từ “ăn” trong một số ngữ cảnh giao tiếp cụ thể sau: Ăn (1): Mẹ nói với con: “Khi ăn cơm, các con không nên cười đùa!” Ăn(2): Người bán vé nói với mọi người ở cửa rạp chiếu phim: “Phim này hiện đang ăn khách nhất đấy.” Ăn(3): Thông báo: 14h, tàu Hạ Long cập cảng ăn than. Ăn (4): Bé Bi nói với bé Bống: “Con gái các cậu là chúa ăn gian” Chỉ trong những tình huống cụ thể như vậy, HS mới có thể hình dung được sự phong phú và đa dạng của ngữ cảnh trong cuộc sống, để từ đó có ý thức sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực và hiệu quả hơn. Các ngữ liệu phải thực tế, đảm bảo tính nghiêm túc, có văn hóa, HS có thể áp dụng ngay trong thực tiễn giao tiếp của bản thân một cách hiệu quả. -Cuối cùng , bài tập ngữ pháp cần chỉ ra những nhiệm vụ giao tiếp cụ thể để định hướng cho HS tạo lập những lời nói cụ thể. Khi thiết kế bài tập, GV cần lưu tâm đến mối quan hệ xung quanh HS , chỉ rõ cho HS nhiệm vụ và cách giao tiếp với từng đối tượng trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể. Chẳng hạn, khi dạy bài “Ngữ cảnh” cần đưa ra những tình huống, và những vai giao tiếp khác nhau để các em biết sử dụng lời nói phù hợp với hoàn cảnh và vị trí vai trò của các nhân vật giao tiếp. Hiện nay, hầu hết bài tập trong SGK Ngữ văn chương trình phổ thông chủ yếu được dùng để minh họa lý thuyết về tiếng Việt mà HS vừa học . Hệ thống bài tập này nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưa thể hiện được rõ nét các nguyên tắc giáo dục trong dạy học thực hành tiếng Việt. Vì thế, những điểm lưu ý trên là rất cần thiết khi GV muốn thiết kế hệ thống bài tập để HS thực hành trong các tiết tự học hoặc tăng tiết. 56 2.2.4.3. Tổ chức cho HS chuẩn bị bài học ở nhà Một tiết học thành công không thể thiếu sự chuẩn bị bài trước ở nhà của người học. Chuẩn bị bài là người học nghiên cứu trước nội dung bài sẽ học để cơ bản biết được nội dung chính của bài, đánh dấu những chỗ khó hiểu, chưa hiểu để trao đổi lại, sau đó thực hiện những yêu cầu mà GV đã dặn dò. HS chuẩn bị bài là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học, giúp chủ động, tích cực hơn trong học tập, nâng cao tinh thần tự học, đồng thời góp phần rèn luyện kĩ năng đọc hiểu, đọc tóm tắt ý chính. Muốn thu nhận được những kết quả tốt trong nội dung soạn bài của HS, GV phải có những kế hoạch chu đáo về nội dung cần HS chuẩn bị cũng như biện pháp kiểm tra, đánh giá cần thiết. Tùy theo đơn vị bài học mà GV sẽ đề ra những nội dung cần chuẩn bị cho phù hợp. Với bài tìm hiểu kiến thức mới GV nên tập trung chú ý vào những yêu cầu để HS đọc bài trước và trả lời những câu hỏi trong SGK, những câu hỏi gợi ý của GV; còn với kiểu bài luyện tập, ôn tập thì nên đưa thêm một vài câu hỏi để các em tìm tòi, khám phá. Ngoài ra, GV yêu cầu các em đặt vấn đề theo những câu hỏi gợi ý trước như khi dạy bài “Nghĩa của câu”, GV yêu cầu các em về nhà đọc trước bài học và đặt ra những câu hỏi thắc mắc của bản thân như: Tình thái là gì? Làm sao để thể hiện thái độ của mình trong câu nói? Nghĩa tình thái trong câu có phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp? .. Đến tiết học sau, các em ghi lên bảng phụ những thắc mắc của mình, đến cuối giờ, dựa vào những câu hỏi đó để kiểm tra lại kiến thức mà các em đã tiếp nhận. Đây cũng là một cách rèn luyện khả năng giao tiếp của GV và HS, nhằm giúp các em thể hiện được suy nghĩ và nhu cầu tìm hiểu của bản thân. GV có thể giao việc về nhà cho cá nhân hoặc cho nhóm học tập. Nếu giao việc cho cá nhân thì từng HS phải chuẩn bị trước những yêu cầu giống nhau cho bài học, còn giao việc cho nhóm thì nhóm trưởng sẽ nhận nhiệm vụ và phân công nhiệm vụ chuẩn bị cho các thành viên của nhóm, khi đó, mỗi HS có thể chỉ thực hiện một yêu cầu nhỏ của nội dung bài học. Kết quả soạn bài có thể được ghi lại trong vở bài soạn của HS hoặc trình bày trong phiếu học tập do GV hay HS tự thiết kế. Có một số điều GV cần lưu ý khi cho HS chuẩn bị bài trước ở nhà: - Với những yêu cầu khó, cần thời gian để sưu tầm, GV nên giao việc trước khoảng một tuần để các em có thời gian chuẩn bị. 57 - Để HS siêng năng chuẩn bị bài GV nên có thao tác kiểm tra, đánh giá. Cách kiểm tra nên được thực hiện linh hoạt, không nhất thiết là xem tập bài soạn mà có thể hỏi vài ý nhỏ trong nội dung yêu cầu chuẩn bị. - Ngoài những câu hỏi trong SGK, có những bài GV nên đưa thêm một số câu hỏi để HS suy nghĩ, tìm tòi. - Những nội dung mà HS chuẩn bị phải được bàn bạc, phân tích trong giờ học. Nếu GV giao việc cho HS chuẩn bị nhưng vào tiết học không sử dụng đến thì HS sẽ cho rằng việc làm của các em không cần thiết, từ suy nghĩ đó các em sẽ không soạn bài hoặc soạn đối phó cho những bài học sau. 2.2.4.4. Hình thức vừa chơi vừa học ở lớp Hình thức dạy học vừa chơi vừa học TV là dạy học bằng tṛ chơi, chơi là hình thức còn học là mục đích. Đây là hình thức dạy học có khả năng hấp dẫn, cuốn hút sự tham gia, sự tập trung của HS, đem lại hiệu quả nhất định bởi “biết mà học không bằng vui mà học” (Khổng Tử). Hình thức dạy học này có thể áp dụng ở đầu tiết học nhằm thu hút sự chú ý của HS, đồng thời tạo bầu không khí học tập sôi động để kích thích hứng thú học tập. GV cũng có thể tổ chức hình thức vừa chơi vừa học ở giữa tiết học để HS vừa thư giãn vừa tập trung sự chú ý hay tổ chức vào cuối tiết để củng cố lại bài học, khắc sâu kiến thức cho các em. Tùy vào nội dung bài học mà GV chọn thời điểm tổ chức cho phù hợp. GV có thể tổ chức cho HS chơi bằng cách thi đua giữa các nhóm, các tổ, hoặc đại diện nhóm, tổ lên bảng thi với các bạn nhóm, tổ khác. Một số bài học ngữ pháp có thể áp dụng chơi trò chơi như: - Nghĩa của câu: Sau khi tìm hiểu bài học, GV có thể cung cấp cho HS một đoạn thơ chưa hoàn chỉnh trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh để các em suy nghĩ điền khuyết những từ ngữ tình thái còn thiếu dựa trên những từ đã cung cấp: Cuộc đời. dài thế Năm tháng .đi qua Như biển kia ..rộng Mây.bay về xa. (vẫn, tuy, dẫu, dù, đã, chắc) 58 Hoặc GV có thể yêu cầu các nhóm thảo luận trong 3phút để đưa ra một yêu cầu tình thái yêu cầu các nhóm khác đặt câu. Các hình thức tổ chức dạy học nêu trên thể hiện rõ tinh thần giao tiếp vì phát huy được vai trò tích cực, chủ động của HS trong học tập, giúp các em rèn luyện được những kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp cần thiết. Khi thiết kế bài dạy, khi đứng lớp, GV nên chú ý vận dụng linh hoạt, phù hợp các hình thức tổ chức này để tiết học đạt hiệu quả tốt nhất. - Ngữ cảnh: đối với bài này, GV dành khoảng 5 phút cuối tiết học, trình chiếu cho HS xem một số video clip để HS xử lý tình huống, ứng xử cho phù hợp với ngữ cảnh. Từ đó, GV nhấn mạnh vai trò của ngữ cảnh trong cuộc sống. - Những yêu cầu khi sử dụng tiếng Việt: trong phần ngữ pháp, sau khi đã phân tích bài thực hành, GV yêu cầu mỗi nhóm thảo luận, tự đặt câu có lỗi về ngữ pháp tạo thử thách cho các nhóm khác, theo thứ tự các nhóm sẽ cùng nhau giải quyết, nhóm nào trả lời đúng hết sẽ được cộng 1 điểm. 2.2.5. Quan điểm giao tiếp với việc kiểm tra, đánh giá 2.2.5.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá Kiểm tra đánh giá là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học. Kiểm tra là thu thập thông tin về kết quả thực hiện mục tiêu dạy học, đánh giá là xác định mức độ đạt được về việc thực hiện những mục tiêu đó. Thông qua kết quả thu nhận được GV sẽ biết được mức độ hiểu, vận dụng kiến thức của HS, sự tiến bộ của từng HS trong thời gian học tập nhất định cũng như nhận biết được hiệu quả của các PP dạy học đã áp dụng, từ đó trả lời cho câu hỏi có nên thay đổi, điều chỉnh nội dung, PP, hình thức học, dạy học hay không. Đối với HS, kiểm tra, đánh giá giúp các em nhận biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chương trình học, từ đó thấy được mặt đạt, mặt chưa đạt trong nhận thức để điều chỉnh PP học tập. Ở bậc THPT, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo quan điểm giao tiếp có mục đích trọng tâm là đánh giá năng lực sử dụng tiếng Việt của HS trên cơ sở nghe, nói, đọc, viết. Tùy theo từng mục đích, ta sẽ lựa chọn nội dung và hình thức kiểm tra, đánh giá tương ứng. 59 2.2.5.2. Nội dung kiểm tra, đánh giá Dựa vào mục tiêu bài học, nội dung dạy học và mục đích kiểm tra đánh giá mà xác định nội dung kiểm tra đánh giá. Kiểm tra đánh giá kiến thức ngữ pháp, kĩ năng nhận diện phân loại các đơn vị ngôn ngữ của người học là cần nhưng nội dung cần được xem trọng trước hết là: + Mức độ hiểu quy tắc sử dụng TV + Khả năng vận dụng quy tắc TV vào tiếp nhận văn bản và sản sinh văn bản. Để đánh giá được chính xác khả năng của HS, khi thiết kế đề kiểm tra GV cần tính toán đến sự cân đối, hợp lí về dung lượng đề với thời lượng làm bài. Ngoài ra đề bài cần phải xem xét đến việc kiểm tra cả kĩ năng tiếp nhận lời và kĩ năng tạo lập lời ở người học. “ Sự ưu tiên một cách thái quá cho việc kiểm tra kĩ năng tạo lời mà ít chú ý đến kĩ năng tiếp nhận, hay ưu tiên một cách cực đoan cho việc kiểm tra kĩ năng sử dụng lời viết mà coi nhẹ kĩ năng sử dụng lời miệng (hoặc ngược lại) có thể dẫn đến kết quả đánh giá không toàn diện, từ đó kéo theo sự mất cân đối trong nội dung dạy học và mất cân bằng trong kĩ năng sử dụng lời nói của HS” [9, 139]. 2.2.5.3. Hình thức kiểm tra, đánh giá Hình thức của hoạt động kiểm tra, đánh giá tùy thuộc vào nội dung và mục đích của việc kiểm tra, đánh giá. Tùy theo nội dung cần kiểm tra và mục đích của việc kiểm tra mà hình thức kiểm tra sẽ được lựa chọn cho phù hợp, như cân nhắc để chọn thời điểm, nội dung và hình thức đề. Ví dụ để theo dõi mức độ tiếp thu bài của HS, GV nên thực hiện đánh giá ngay trong tiết dạy bằng những câu hỏi, những tình huống cụ thể gắn với nội dung vừa truyền đạt. Còn để lưu lại kết quả của HS sau khi học, GV thực hiện đánh giá thường xuyên sau khi dạy xong mỗi bài và đánh giá định kì theo quy định. Đối với trường hợp này, đề kiểm tra là một nhân tố quan trọng góp phần giúp GV đưa ra những nhận xét chính xác về năng lực của người học. Theo quan điểm giao tiếp, đề bài cần có một tỉ lệ thích đáng cho yêu cầu tự luận bởi vì một mặt tự luận giúp người viết rèn luyện kĩ năng viết, mặt khác thông qua bài luận, GV sẽ đánh giá được tốt nhất năng lực sử dụng ngôn ngữ của người học. Ngoài ra để HS có được định hướng đúng cho bài viết và hứng thú làm bài, đề bài cần rõ ràng, cần chú ý đến ý nghĩa thiết thực, gần gũi của các nhân tố giao tiếp đối với người học. Ví dụ, đối với HS THPT ở thôn quê, GV không nên ra đề mà các nhân tố giao tiếp khá xa lạ 60 với độ tuổi, hoàn cảnh của các em, chẳng hạn như: Em hãy viết một đoạn văn bản khoảng 5 câu có sử dụng câu bị động, câu có khởi ngữ để kể lại chuyến thăm viện bảo tàng TP.HCM. Việc đánh giá kết quả bài kiểm tra có thể được thực hiện theo hai cách: GV đánh giá HS và HS đánh giá HS. Cách thứ nhất là cách làm truyền thống, giúp GV có được kết quả chính xác về bài kiểm tra nhưng không phát huy được vai trò của người học trong quá trình đánh giá. Cách thứ hai khắc phục được nhược điểm của cách thứ nhất bởi nó yêu cầu người học phải tham gia vào việc nhận xét sản phẩm của bạn học. Cách làm này sẽ tạo điều kiện cho HS học hỏi điểm hay, phát hiện những sai sót trong bài của bạn để rút kinh nghiệm cho những bài làm kế tiếp của mình. Đồng thời để HS đánh giá lẫn nhau cũng là cách giúp các em dần rèn luyện kĩ năng nhận xét đánh giá, đây là kĩ năng cần thiết cho các em trong cuộc sống . Bên cạnh đánh giá cá nhân, GV cần sử dụng hình thức đánh giá nhóm trong hoạt động kiểm tra đánh giá. Đánh giá nhóm sẽ thúc đẩy các thành viên hỗ trợ tích cực với nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung. Bởi vì muốn hoạt động nhóm thành công, đạt kết quả cao từng thành viên ngoài tinh thần làm việc tích cực còn phải kết hợp hiệu qu

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2014_05_29_2658685364_8527_1871489.pdf
Tài liệu liên quan