Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam

Nhân thân người phạm tội là một khái niệm rộng, đa dạng nhưng khi cân nhắc nhân thân

người phạm tội để quyết định hình phạt thì không được trừu tượng hóa và tách rời chúng khỏi

tội phạm tội đã thực hiện và cũng không chỉ xuất từ tội phạm đã thực hiện bởi hình phạt luôn

là hình phạt cho hành vi phạm tội đã thực hiện chứ không phải cho nhân thân người phạm tội.

Cụ thể, thực tiễn xét xử thường xem xét các đặc điểm nhân thân sau đây khi quyết định hình

phạt:

- Những đặc điểm nhân thân người phạm tội có tổ chức có ảnh hưởng đến mức độ nguy

hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có tổ chức phản ánh khả năng giáo dục,

cải tạo người phạm tội.

- Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có tổ chức phản ánh hoàn cảnh đặc biệt

của người phạm tội mà Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt

pdf17 trang | Chia sẻ: lanphuong92 | Ngày: 16/10/2020 | Lượt xem: 278 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ồng thời, thực hiện nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi hình phạt, các biện pháp tư pháp và các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác được áp dụng đối với người phạm tội nói chung và người phạm tội có tổ chức nói riêng không nhằm mục đích gây đau đớn về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người. Một nội dung khác của nguyên tắc nhân đạo thể hiện ở chỗ luật hình sự quy định đường lối quyết định hình phạt nghiêm khắc đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, những người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tổ chức nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của xã hội, Nhà nước và nhân dân khỏi sự xâm hại của tội phạm. - Nguyên tắc cá thể hóa TNHS Nội dung của nguyên tắc cá thể hóa khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức được thể hiện trong luật hình sự cũng như trong thực tiễn áp dụng luật hình sự. Trong luật hình sự, nguyên tắc cá thể hóa TNHS trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức được thể hiện trong các quy phạm Phần chung và các quy phạm Phần các tội phạm BLHS. Trong áp dụng pháp luật, nguyên tắc cá thể hóa trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc đầy đủ các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức để từ đó làm cơ sở cho Tòa án quyết định hình phạt đúng đắn với người phạm tội. Như vậy, cá thể hóa khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức trong luật là cơ sở pháp lý để Tòa án cá thể hóa trong áp dụng và ngược lại, chính việc cá thể hóa hình phạt trong áp dụng là quá trình đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào thực tiễn giúp cho việc cá thể hóa trong luật được thực hiện trong thực tế. - Nguyên tắc công bằng Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc công bằng được thể hiện là sự tương xứng giữa tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và TNHS của người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu. Như vậy, đòi hỏi thứ nhất của nguyên tắc này trong việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức là hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tội chung mà những người phạm tội có tổ chức đã cùng tham gia thực hiện. Ngoài tội phạm, nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Tòa án còn phải cân nhắc cả nhân thân người phạm tội có tổ chức và các tình tiết khác có trong vụ án. Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức còn đòi hỏi hình phạt được tuyên cần phải phản ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội, phải có sức thuyết phục mọi người, đảm bảo tính xác định, tính lập luận và bắt buộc phải có lý do. Một đòi hỏi khác của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức là tính hợp lý của việc quyết định hình phạt. Trong BLHS, nội dung của nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức được thể hiện ở cả trong Phần chung và Phần các tội phạm BLHS. 1.3.2. Căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Tòa án phải tuân theo những đòi hỏi quan trọng có tính chất nguyên tắc là: a. Các quy định của BLHS; b. Tính chất và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội; c. Nhân thân người phạm tội; d. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS; đ.Tính chất đồng phạm; e. Tính chất, mức độ tham gia của từng người phạm tội có tổ chức. 1.3.2.1. Các quy định của Bộ luật hình sự Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào tất cả các quy định Phần chung BLHS, trong đó, những quy định của Phần chung liên quan trực tiếp đến việc quyết định hình phạt là những quy định mà Tòa án cần căn cứ trước hết khi quyết định hình phạt. Ngoài căn cứ và các quy định của Phần chung BLHS, Tòa án còn phải căn cứ vào các quy định Phần các tội phạm BLHS về loại và khung hình phạt của điều luật quy định tội phạm mà bị cáo đã cùng tham gia thực hiện. Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, Tòa án phải tuân theo các quy định BLHS để xác định loại và mức hình phạt đối với những người phạm tội có tổ chức về tội phạm chung mà họ đã cùng cố ý thực hiện. Tội phạm chung của những người đồng phạm có tổ chức được quy định tại Điều luật nào của Phần các tội phạm BLHS thì quyết định hình phạt được thực hiện trong phạm vi khung chế tài điều luật ấy quy định. Các quy định khác của BLHS đối với tội phạm chung mà họ đã cùng thực hiện cũng được áp dụng chung cho những người phạm tội có tổ chức. 1.3.2.2 Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong trường hợp phạm tội có tổ chức, việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được hiểu là sự thống nhất giữa tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm chung với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của từng người phạm tội có tổ chức. Tính chất nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về chất của tội phạm là thuộc tính khách quan của một loại tội phạm nhất định được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm, trong đó, trước hết và quan trọng nhất là ý nghĩa, tầm quan trọng, giá trị của những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bị hành vi phạm tội xâm hại (khách thể của tội phạm). Mức độ nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về lượng của tội phạm, cũng là thuộc tính khách quan của một tội phạm và được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Mặc dù, khi xây dựng các khung chế tài cho các tội phạm cụ thể, nhà làm luật đã căn cứ chủ yếu vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của từng nhóm tội và của từng tội trong nhóm tội nhưng khi quyết định hình phạt vẫn đòi hỏi Tòa án phải cân nhắc cả tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm. Thực tiễn xem xét cho thấy Tòa án thấy khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm chung đã thực hiện Tòa án phải dựa vào những tình tiết dấu hiệu thuộc mặt khách quan và chủ quan sau: - Tính chất của hành vi tham gia thực hiện tội chung của những người phạm tội có tổ chức như thủ đoạn, công cụ, phương tiện, hình thức thực hiện. - Tính chất và mức độ của hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra. - Các tình tiết như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội trong những trường hợp không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội chung. - Các loại và mức độ của lỗi. 1.3.2.3. Nhân thân người phạm tội có tổ chức Nhân thân người phạm tội là một khái niệm rộng, đa dạng nhưng khi cân nhắc nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt thì không được trừu tượng hóa và tách rời chúng khỏi tội phạm tội đã thực hiện và cũng không chỉ xuất từ tội phạm đã thực hiện bởi hình phạt luôn là hình phạt cho hành vi phạm tội đã thực hiện chứ không phải cho nhân thân người phạm tội. Cụ thể, thực tiễn xét xử thường xem xét các đặc điểm nhân thân sau đây khi quyết định hình phạt: - Những đặc điểm nhân thân người phạm tội có tổ chức có ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. - Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có tổ chức phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội. - Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội có tổ chức phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội mà Tòa án phải xem xét khi quyết định hình phạt. Những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội có thể được chỉ rõ trong luật (mang tính pháp lý) hoặc là những đặc điểm, đặc tính không được chỉ rõ trong luật nhưng được pháp luật cho phép Tòa án cân nhắc khi chúng có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt (không mang tính pháp lý). Mỗi đặc điểm nhân thân người phạm tội có ý nghĩa và mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với từng trường hợp phạm tội, trong từng vụ án cụ thể. Các đặc điểm, đặc tính nhân thân người phạm tội cụ thể bao giờ cũng có nội dung cụ thể. Nhân thân người phạm tội là một nội dung phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đồng thời là một căn cứ độc lập phải xem xét khi quyết định hình phạt. Khi cân nhắc các căn cứ, đòi hỏi trong mọi trường hợp, Tòa án phải coi trọng và lấy căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chung đã thực hiện làm căn cứ hàng đầu, quan trọng, quyết định bởi vì tội phạm đã thực hiện là thước đo khách quan duy nhất của TNHS, của việc quyết định hình phạt. 1.3.2.4. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS trong một vụ án phạm tội có tổ chức bao gồm cả các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung cho tất cả những người phạm tội có tổ chức và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS áp dụng đối với riêng từng người phạm tội có tổ chức. Khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, để vận dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS với tư cách là một căn cứ quyết định hình phạt thì đòi hỏi đầu tiên đối với Tòa án là phải có sự phân biệt những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS áp dụng riêng đối với từng người phạm tội có rổ chức. Ngoài ra, để việc vận dụng những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chung và những tính tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS thuộc về riêng người phạm tội có tổ chức được chính xác, cần phải quán triệt đầy đủ nội dung, ý nghĩa pháp lý của từng tình tiết cụ thể được quy định tại Điều 46, Điều 48 và đồng thời phải chú ý một số các đặc điểm khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS. 1.3.2.5. Tính chất phạm tội có tổ chức Tính nguy hiểm cao hơn cho xã hội của tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm quy định tính nguy hiểm cao cho xã hội của tất cả những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Do vậy, luật quy định Toà án phải cân nhắc tính chất đồng phạm khi quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm. Đến lượt mình, tính chất đồng phạm được quy định bởi các hình thức đồng phạm. Nếu như giữa các hình thức đồng phạm có sự phân biệt về tính chất của sự liên hiệp hành động thì giữa các trường hợp phạm tội có tổ chức lại tiếp tục được phân biệt bởi tính chất của sự câu kết chặt chẽ của những người phạm tội có tổ chức trong hoạt động phạm tội chung. Do vậy, để cá thể hóa một cách triệt để đảm bảo nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt trong trường phạm tội có tổ chức, Tòa án phải căn cứ vào tính chất của phạm tội có tổ chức - tính chất của sự câu kết chặt chẽ. Trong thực tiễn, tính chất của phạm tội có tổ chức hay tính chất của sự câu kết chặt chẽ thường được đánh giá thông qua các yếu tố sau: thời gian tồn tại của đồng phạm có tổ chức; mục đích, ý thức chủ quan của liên kết; tính chất và mức độ chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm; sự phân hóa vai trò, phân công nhiệm vụ; tính chất chuyên nghiệp; phương pháp, thủ đoạn phạm tội. 1.3.2.6. Tính chất, mức độ tham gia phạm tội của từng người phạm tội có tổ chức Tính chất tham gia phạm tội của từng người phạm tội có tổ chức được quy định bởi vai trò mà người phạm tội có tổ chức đảm nhiệm, đặc thù về chức năng, tác dụng của người đó trong hoạt động phạm tội chung. Mức độ tham gia của từng người phạm tội có tổ chức chỉ sự đóng góp thực tế của những người phạm tội có tổ chức vào việc thực hiện tội phạm chung, được xác định bởi tính chất của hành vi phạm tội và mức độ đóng góp thực tế của người đó trong việc thực hiện vai trò, chức năng của mình trong việc cùng chung thực hiện tội phạm, cũng như việc gây ra hoặc đe dọa gây ra hậu quả tội phạm chung. Việc pháp luật quy định khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nói chung và phạm tội có tổ chức nói riêng, Tòa án phải căn cứ vào tính chất và mức độ tham gia của từng người phạm tội là sự thể hiện của nguyên tắc công bằng và nhằm cá thể hóa TNHS của từng người phạm tội. 1.4. Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự một số nước trên thế giới 1.4.1. Luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức Luật hình sự CHLB Đức không quy định riêng căn cứ quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội có tổ chức mà quy định cụ thể và trực tiếp trong luật hình sự các nguyên tắc quyết định hình phạt làm căn cứ chung có tính chất định hướng, chỉ đạo trong việc quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội, quy định các căn cứ quyết định hình phạt trong mọi trường hợp phạm tội nói chung (đơn lẻ, đồng phạm) và các quy định có tính chất phân hóa TNHS đối với những người đồng phạm. Để định hướng cho Tòa án và tạo cơ sở cho việc quyết định hình phạt, BLHS Đức đã quy định các nguyên tắc quyết định hình phạt tại Điều 46. Theo điều luật này, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải dựa trên cơ sở lỗi của người phạm tội, đồng thời phải cân nhắc đến ảnh hưởng của hình phạt sẽ tuyên đối với cuộc sống sắp tới của họ. Cụ thể hóa nguyên tắc quyết định hình phạt, Điều 46 BLHS Đức quy định căn cứ quyết định hình phạt. Với quy định này, luật mới chỉ định hướng chung cho việc quyết định hình phạt thông qua việc đưa ra các loại tình tiết cần xem xét, đánh giá. Luật chưa cụ thể hóa các tình tiết đó theo hướng tăng nặng cũng như theo hướng giảm nhẹ. Nghiên cứu quy định BLHS Đức, chúng ta còn thấy nhà làm luật còn tiến xa hơn trong việc phân hóa TNHS của những người đồng phạm. BLHS Đức coi người xúi giục phải chịu trách nhiệm như người thực hành còn người giúp sức chỉ đóng vai trò thứ yếu nên mức độ TNHS nhẹ hơn so với người thực hành. 1.4.2. Luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Cũng giống như BLHS CHLB Đức và BLHS Việt Nam, BLHS CHND Trung Hoa không có quy định riêng về căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức với tư cách là một hình thức đồng phạm đặc biệt. BLHS CHND Trung Hoa chỉ quy định chung các căn cứ quyết định hình phạt được áp dụng trong cả trường hợp phạm tội đơn lẻ và trường hợp đồng phạm. Cụ thể, Điều 61 quy định "Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội cần phải căn cứ vào thực tế, tính chất, tình tiết và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo những quy định có liên quan trong Bộ luật này". Với việc chỉ quy định hai căn cứ quyết định hình phạt này, theo chúng tôi, dường như nhà làm luật trong trường hợp này đã gián tiếp coi nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS chỉ là một trong những tình tiết giúp cho Tòa án đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như khả năng cải tạo, giáo dục và hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội (căn cứ thứ hai). Tuy nhiên, BLHS CHND Trung Hoa lại thể hiện ở mức độ cao nguyên tắc cá thể hóa TNHS đối với những người đồng phạm nói chung. 1.4.3. Luật hình sự Liên bang Nga Cũng giống như BLHS Việt Nam và một số nước, BLHS Nga chỉ quy định về các căn cứ (nguyên tắc) quyết định hình phạt chung, căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm mà không có quy định cụ thể, chi tiết về trường hợp quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức và cũng chưa quyết định cụ thể về sự phân hóa TNHS khi quyết định hình phạt đối với mỗi người đồng phạm. BLHS Liên bang Nga không coi các quy định của BLHS là căn cứ quyết định hình phạt. Thực tế trên xuất phát từ quan điểm cho rằng việc tuân thủ các quy định của BLHS khi quyết định hình phạt là điều bắt buộc, hiển nhiên. Luật hình sự Liên bang Nga chưa có quy định riêng thể hiện sự phân hóa TNHS giữa những người tham gia thực hiện tội phạm. Chương 2 THỰC TIỄN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 2.1. Thực trạng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức 2.1.1. Thực trạng phạm tội có tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội còn khoảng 48 băng, ổ nhóm tội phạm trọng điểm, hoạt động bảo kê để cưỡng đoạt tài sản; đòi nợ thuê, đâm thuê chém mướn, tổ chức đánh bạc; cho vay nặng lãi, côn đồ hung hãn. Từ ngày 01.01.2004 đến 31.12.2008, toàn thành phố đã điều tra, khám phá 24.561 vụ, 32.254 đối tượng (đạt tỷ lệ 72%). Trong đó, đã triệt phá 5247 ổ nhóm tội phạm bắt 21.025 đối tượng. Loại ổ nhóm đã triệt phá bao gồm: 1895 ổ nhóm có từ 3 đến 5 đối tượng; 657 ổ nhóm có từ 6 đến 9 đối tượng; 232 ổ nhóm có từ 10 đối tượng trở lên. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống phạm tội có tổ chức trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy rằng, các trường hợp phạm tội có tổ chức thường tồn tại hai dạng cơ bản sau: phạm tội có tổ chức có cơ cấu tổ chức đơn giản và phạm tội có tổ chức có cơ cấu tổ chức phức tạp. 2.1.2. Thực trạng quyết định hình phạm trong trường hợp phạm tội có tổ chức 2.1.2.1. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức - những kết quả quan trọng Theo số liệu thống kê của tác giả về các vụ án phạm tội có tổ chức do Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm qua các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009 thì: Năm 2005, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử 22 vụ - 83 bị cáo (3.77 bị cáo/vụ); Năm 2006, xét xử 18 vụ - 67 bị cáo (3.72 bị cáo/vụ); Năm 2007, xét xử 14 vụ - 88 bị cáo (6,2 bị cáo/vụ); Năm 2008, xét xử 08 vụ - 35 bị cáo (4,38 bị cáo/vụ); Năm 2009, xét xử 06 vụ - 30 bị cáo (5 bị cáo/vụ). Qua thực tiễn xét xử cho thấy phần lớn các Thẩm phán đều hiểu rõ nội dung, bản chất, các hình thức thường gặp của phạm tội có tổ chức. Hầu hết các Tòa án đã áp dụng đúng tình tiết phạm tội có tổ chức, có sự phân biệt rõ ràng giữa đồng phạm thông thường với phạm tội có tổ chức. Các Tòa án đã đảm bảo việc thực hiện tốt nguyên tắc xử lý. Nhìn chung, hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với các bị cáo đảm bảo nghiêm minh, kết hợp giữa trừng trị với giáo dục, thuyết phục. 2.1.2.1. Một số hạn chế trong việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức - Về nhận thức và áp dụng tình tiết phạm tội có tổ chức Thứ nhất, trong một số vụ án phạm tội có tổ chức, khi xét xử đã có quan điểm đồng nhất khái niệm phạm tội có tổ chức với đồng phạm có thông mưu trước. Ví dụ: Vụ án Nguyễn Văn Đức cùng đồng bọn phạm tội "Cướp tài sản" Thứ hai, một số Tòa án cho rằng phạm tội có tổ chức dứt khoát phải là hình thức đồng phạm phức tạp, tức là phải có sự phân công vai trò giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Hoặc trong một số trường hợp, Tòa án sai lầm trong việc đánh giá về việc phân công vai trò giữa những người tham gia thực hiện tội phạm. Đôi khi sự phân công đó là để thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước giao sau đó thì thực hiện tội phạm. Do đó, trong trường hợp này không được xác định là phạm tội có tổ chức. Ví dụ: Vụ án Trần Cao Tuấn và đồng phạm phạm tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" Thứ ba, trong khi xác định hình thức phạm tội có tổ chức một số Tòa án cho rằng ở hình phức phạm tội có tổ chức những người đang phải phạm nhiều tội hoặc phạm một tội nhưng nhiều lần và có sự câu kết chặt chẽ với nhau trong một thời gian dài. - Hạn chế trong việc nhận thức và áp dụng các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Thứ nhất, sai sót trong việc áp dụng đường lối xử lý về hình sự. Ví dụ: Vụ án Hoa Anh Tuấn và đồng bọn phạm tội "Chống người thi hành công vụ" (đồng phạm thường) Thứ hai, một số Tòa án sai sót khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức, thường phổ biến ở các dạng: bỏ sót một số tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS, vận dụng không đúng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS hoặc không vận đúng khoán 2 Điều 46 BLHS và cá biệt có trường hợp Tòa án đã có sự nhầm lẫn khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS đối với riêng người phạm tội trong phạm tội có tổ chức để áp dụng chung cho tất cả những người phạm tội dẫn đến quyết định hình phạt không chính xác. Ví dụ: Vụ án Ngô Khánh Toàn và đồng phạm phạm tội "Tham ô tài sản" Thứ ba, một số Tòa án khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức và đồng phạm cân nhắc không đúng căn cứ "tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội", tính chất, mức độ tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Ví dụ: Vụ án Phạm Quang Minh và đồng phạm phạm tội "Gây rối trật tự công cộng". Thứ tư, một số Tòa án khi quyết định hình phạt cân nhắc chưa đúng nhân thân người phạm tội thường là do nghiên cứu chưa kỹ hồ sơ vụ án dẫn đến bỏ sót một số tình tiết thuộc về nhân thân có ý nghĩa giảm nhẹ hoặc tăng nặng hình phạt cho bị cáo. Thứ năm, một số Tòa án khi quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức cân nhắc không đúng căn cứ, "tính chất của đồng phạm". 2.2. Những nguyên nhân của các hạn chế của quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức 2.2.1. Hạn chế về trình độ, năng lực, trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ngành Tòa án Một số không ít Thẩm phán chưa nên cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, thiếu thận trọng, chưa tích cực nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ nghiệp vụ nên chưa nắm vững các hướng dẫn áp dụng pháp luật nên áp dụng không đúng các quy định của pháp luật dẫn tới việc xét xử sai... Thực tế hiện nay, rất ít Hội thẩm nhân dân hiểu pháp luật nói chung cũng như có sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật thuộc từng lĩnh vực chuyên ngành. 2.2.2. Hạn chế trong các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức - Thiếu quy định mang tính chất phân hóa, TNHS đối với quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm nói chung và phạm tội có tổ chức nói riêng. - Vướng mắc trong việc xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm của những người đồng phạm nói chung và phạm tội có tổ chức nói riêng. Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 3.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến phạm tội có tổ chức và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức 3.1.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến phạm tội có tổ chức Thứ nhất, cần quy định một khái niệm đầy đủ về phạm tội có tổ chức trong BLHS Việt Nam. Thứ hai, BLHS cần quy định riêng về tổ chức tội phạm. 3.1.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức Thứ nhất, cần thiết quy định một điều luật riêng về các nguyên tắc xác định TNHS trong trường hợp đồng phạm và phạm tội có tổ chức. Thứ hai, phải phân hóa TNHS đối với những người đồng phạm và người phạm tội có tổ chức ở mức độ cao phản ánh đúng tính chất nguy hiểm cho xã hội trong hành vi của từng người. Cụ thể như sau: Người tổ chức phải chịu TNHS tăng nặng hơn so với người thực hành; người xúi giục chịu TNHS như người thực hành; người giúp sức được giảm nhẹ TNHS hơn người thực hành. Thứ ba, BLHS cần thiết phải quy định về các giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm và vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm. 3.2. Nâng cao năng lực, chất lượng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ngành Tòa án nhân dân 3.2.1. Nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ Thẩm phán ngành Tòa án nhân dân Để nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán nói chung đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, cần quán triệt một số quan điểm sau: - Nâng cao chất lượng Thẩm phán trên cơ sở nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, lấy hoạt động xét xử làm trung tâm - Nâng cao chất lượng Thẩm phán nhằm bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người và bảo vệ pháp chế XHCN - Nâng cao chất lượng Thẩm phán trên cơ sở nâng cao tiêu chuẩn đạo đức, phẩm chất, chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán - Nâng cao chất lượng Thẩm phán phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Việc nâng cao chất lượng Thẩm phán ở Việt Nam cần dựa trên các giải pháp cơ bản sau: - Hoàn thiện hệ thống pháp luật về Thẩm phán; - Mở rộng nguồn bổ nhiệm Thẩm phán; - Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán; - Hoàn thiện chế độ tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán; - Cải cách chế độ tiền lương và các chế độ đãi ngộ khác của Thẩm phán; - Hoàn thiện chế độ khen thưởng, kỷ luật Thẩm phán; - Đảm bảo điều kiện vật chất cho hoạt động của Thẩm phán; - Tăng cường các biện pháp bảo đảm cho hoạt động của Thẩm phán; - Hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động của đội ngũ Thẩm phán; - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát với hoạt động của đội ngũ Thẩm phán; - Nâng cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán. 3.2.2. Nâng cao năng lực, chất lượng đội ngũ Hội thẩm nhân dân Để tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức nói riêng thì cần có giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ Hội thẩm nhân dân như sau: Thứ nhất, đổi mới quy định tiêu chuẩn tuyển chọn Hội thẩm nhân dân. Tiêu chuẩn của Hội thẩm nhân dân phải được quy định rõ ràng về tiêu chuẩn đạo đức, trình độ pháp luật và trình độ nghiệp vụ. Thứ hai, cần hoàn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf00050000472_6095_2009390.pdf
Tài liệu liên quan