Tóm tắt Luận án Châu Âu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ thập kỷ đầu thế kỷ XXI

Về mặt thách thức, trong thời gian tới đặc biệt dưới chính quyền

Putin, sự trở lại của nước Nga, với tư cách là một cường quốc quân sự

hạt nhân, khẳng định vị trí "'độc tôn" của mình ở khu vực "lợi ích đặc

quyền", là một thách thức lớn đối với ý đồ bá quyền và việc theo đuổi

lợi ích của Mỹ ở châu Âu. Nước Nga sẽ không chấp nhận để Mỹ và

phương Tây "chèn ép", thu hẹp không gian chiến lược. Đây là nhân tố

hết sức quan trọng tác động tới chiến lược châu Âu của Mỹ và quan hệ

Mỹ - châu Âu trong thời gian tới. Bên cạnh đó, khủng hoảng khu vực

đồng Euro đã tác động đáng kể đến vai trò và vị thế của châu Âu nói

chung và trong chiến lược của Mỹ nói riêng. Đây cũng là mặt thách

thức trong chính sách của Mỹ đối với châu Âu, trong bối cảnh vai trò

"đối tác toàn cầu" và sự chia sẻ gánh nặng của châu Âu ngày càng trở

nên quan trọng trong chiến lược của Mỹ.

pdf27 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 02/03/2022 | Lượt xem: 196 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Châu Âu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ thập kỷ đầu thế kỷ XXI, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lấy sức mạnh làm trung tâm và lợi ích quốc gia là cơ sở để giải thích chính sách của một quốc gia. Dưới tác động của toàn cầu hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do đối với khái niệm sức mạnh quốc gia 7 ngày càng lớn. Một trong những quan điểm của chủ nghĩa tự do về sức mạnh quốc gia được đề cập đến nhiều từ sau chiến tranh lạnh là sức mạnh mềm, bao gồm những yếu tố như ảnh hưởng, sức thu hút của thể chế chính trị, mô hình phát triển, ảnh hưởng về văn hoá v.v...Sức mạnh thông minh bao gồm cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm là khái niệm có ảnh hưởng lớn đến chính sách đối ngoại của chính quyền Obama.. 1.1.3. Vị trí của châu Âu trong tính toán chiến lược của Mỹ qua lăng kính các trường phái lý luận quan hệ quốc tế Châu Âu là một thành tố trong chiến lược đối ngoại toàn cầu của Mỹ. Vì vậy, có thể nói chính sách của Mỹ đối với châu Âu là sự kết hợp giữa quan điểm của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do. Từ góc độ hiện thực, Mỹ có lợi ích chiến lược trong việc duy trì cân bằng quyền lực mới, một trật tự khu vực ở châu Âu do Washington chi phối, kiềm chế các nước đối thủ tiềm tàng, ngăn không cho bất cứ cường quốc nào nổi lên, thách thức vai trò và lợi ích của Mỹ. Từ góc độ tự do, Mỹ có lợi ích kinh tế thiết yếu trong việc duy trì không gian kinh tế mở toàn cầu, thúc đẩy quan hệ kinh tế với châu Âu, trung tâm kinh tế hàng đầu trên thế giới nhằm thực hiện ưu tiên hàng đầu của Mỹ là chấn hưng nền kinh tế, thúc đẩy sự thịnh vượng của nước Mỹ. Sự phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới tất yếu cũng là cơ sở hoạch định chính sách của Mỹ đối với châu Âu. Trên cơ sở tư duy của chủ nghĩa tự do, việc duy trì và phổ biến những giá trị của phương Tây về dân chủ, nhân quyền, kinh tế thị trường, xã hội dân sự ở châu Âu là thành tố quan trọng trong chiến lược châu Âu của Mỹ, đặc biệt thông qua việc mở rộng EU và NATO. 1.2. Cơ sở thực tiễn 1.2.1. Châu Âu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh Do tầm quan trọng của Châu Âu đối với cả Liên Xô và Mỹ, trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, Châu Âu luôn là địa bàn tranh giành ảnh hưởng 8 của hai bên. Đường phân tuyến hai cực và đối đầu Mỹ-Xô chủ yếu diễn ra ở châu Âu và chính vì vậy, châu Âu là trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ thời kỳ chiến tranh lạnh. Châu Âu có vai trò quan trọng hàng đầu cả về an ninh quân sự, chính trị và kinh tế trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Châu Âu trở thành những đồng minh thân cận nhất của Mỹ trong khuôn khổ NATO, tổ chức an ninh quân sự lớn nhất thế giới và là một công cụ hữu hiệu giúp Mỹ theo đuổi những mục tiêu chiến lược ở châu Âu - đó là, mở rộng quyền lực sang châu Âu, nắm giữ và khống chế được Tây Âu trong vòng kiểm soát và dưới sự lãnh đạo của Mỹ, không để xu hướng độc lập đi quá xa, ngăn chặn “nguy cơ cộng sản” lan ra toàn châu Âu. 1.2.2. Điều chỉnh chiến lược của Mỹ thập niên sau chiến tranh lạnh (1991-2000) Sau Chiến tranh Lạnh, nước Mỹ đứng trước những cơ hội và thách thức đan xen. Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất với cơ hội khuếch trương mô hình kinh tế thị trường và dân chủ nhân quyền theo kiểu phương Tây. Tổng thống Mỹ B.Clinton theo đuổi “Chiến lược Can dự và Mở rộng”, chiến lược an ninh quốc gia chính thức đầu tiên của Mỹ kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc. Ba trụ cột chủ yếu trong chiến lược “Can dự và mở rộng” là: an ninh kinh tế, an ninh quân sự và thúc đẩy dân chủ, nhân quyền. Ba trụ cột này gắn bó hữu cơ, có tác động thúc đẩy lẫn nhau và phục vụ mục tiêu bao trùm của Mỹ là thiết lập vai trò lãnh đạo thế giới, nắm bắt thời cơ chiến lược khi Mỹ là siêu cường duy nhất còn lại, những giá trị cơ bản của Mỹ; dân chủ và kinh tế thị trường; đã được truyền bá ở nhiều nơi trên thế giới. 1.2.3. Những nhân tố chủ yếu chi phối chiến lược châu Âu của Mỹ thập kỷ đầu thế kỷ XXI Các xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế: Chiến lược của Mỹ trong những năm đầu thế kỷ 21 chịu sự chi phối mạnh mẽ của bốn xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế, bao gồm xu thế hoà bình, hợp tác và phát 9 triển; xu thế toàn cầu hoá; xu thế đa cực hóa và sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống. Thế và lực của Mỹ trong tương quan với các nước lớn trên thế giới: là nhân tố cơ bản chi phối điều chỉnh chiến lược của Mỹ. Trong hai đến ba thập kỷ tới, Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất, không có đối thủ cạnh tranh toàn cầu cân xứng. Sức mạnh quốc gia tổng hợp của Mỹ vẫn chiếm vị trí hàng đầu, kể cả về sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Tuy nhiên, Mỹ không thể thực hiện chính sách bá chủ thế giới, cũng không thể một mình giải quyết những vấn đề toàn cầu. Lợi ích quốc gia của Mỹ: Một trong những cơ sở xây dựng chiến lược là lợi ích quốc gia của Mỹ trước mắt cũng như lâu dài: lợi ích kinh tế, chính trị và an ninh. Lợi ích lâu dài và xuyên suốt của Mỹ vẫn là “lãnh đạo thế giới”, giữ vững vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, phổ biến giá trị Mỹ trên toàn thế giới. Lợi ích chiến lược của Mỹ sau Chiến tranh Lạnh là duy trì vị trí siêu cường số 1, thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, ngăn chặn không để cho bất cứ một nước nào có thể trở thành đối thủ có khả năng đe doạ vị trí, vai trò và nền an ninh của Mỹ. Tiến trình nhất thể hóa châu Âu và vai trò của châu Âu: Sau hơn 60 năm phát triển và qua nhiều đợt mở rộng, EU đã trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị lớn trên thế giới và là một ðối tác toàn cầu của Mỹ. Tuy nhiên, cho dù EU là mô hình hợp tác khu vực thành công nhất với những liên kết thể chế ở mức cao nhất so với các khu vực khác, những hạn chế lớn về thể chế bên trong cũng như những thách thức từ bên ngoài vẫn là những yếu tố tác động làm hạn chế vai trò và tiếng nói của EU. Ngoài ra, EU cũng có năng lực quân sự yếu kém, chưa tự chủ trong đảm bảo an ninh, khả năng giải quyết khủng hoảng còn hạn chế. EU là đối tác quan trọng tại địa bàn Châu Âu, nhưng hạn chế trong tư cách đối tác toàn cầu. 10 Vai trò ngày càng tăng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương: và sự chuyển dịch cán cân sức mạnh toàn cầu chuyển dịch từ Tây sang Đông đã manh nha từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc nhưng phải đến thập kỷ đầu thế kỷ XXI mới trở thành xu thế lớn trong quan hệ quốc tế. Sự chuyển dịch sức mạnh toàn cầu thể hiện trước hết và rõ nét nhất trong một thay đổi có tính thời đại là sự hồi sinh của Trung Quốc và cùng với nó là sự hồi sinh của châu Á trong thế kỷ XXI. Cùng với Trung Quốc, Ấn Độ ở châu Á cũng đang nổi lên như một trung tâm quyền lực của thế giới trong thế kỷ XXI. CHƢƠNG 2 ĐỊNH VỊ CHÂU ÂU TRONG CHIẾN LƢỢC TOÀN CẦU CỦA MỸ THẬP KỶ ĐẦU THẾ KỶ XXI 2.1. Chiến lƣợc An ninh quốc gia của Chính quyền Bush 2.1.1. Sự kiện ngày 11/9/2001 và tác động đối với chiến lược của Mỹ Trong những tháng đầu dưới chính quyền Bush II, chính quyền Cộng hòa với bộ máy hoạch định chính sách có thiên hướng chủ nghĩa hiện thực, chính sách đối ngoại của Mỹ có những biểu hiện cứng rắn hơn trên một loạt các vấn đề, gây căng thẳng trong quan hệ của Mỹ với nhiều nước. Tuy nhiên, trước những phản ứng không thuận từ đồng minh và quốc tế, chính quyền Bush đã có những điều chỉnh chính sách theo hướng ôn hoà hơn. Sự kiện ngày 11-9-2001 đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa tân bảo thủ tăng cường ảnh hưởng trong chính quyền Mỹ. Tầm nhìn của chủ nghĩa tân bảo thủ mới thể hiện rất rõ sự kết hợp, phần nào mâu thuẫn giữa chủ nghĩa hiện thực chính trị và chủ nghĩa tự do. Sử dụng ưu thế sức mạnh của nước Mỹ, đặc biệt là sức mạnh quân sự để truyền bá những cái gọi là giá trị dân chủ. Họ cho rằng nước Mỹ đang ở trong giai đoạn đỉnh cao sức mạnh, vì vậy, nước Mỹ cần phải thay đổi luật chơi 11 cho phù hợp với ưu thế sức mạnh vượt trội và vai trò bá chủ thế giới của Mỹ. 2.1.2. Chiến lược an ninh quốc gia mới dưới chính quyền G.W. Bush Mục tiêu bao trùm của chiến lược an ninh quốc gia mới là tập trung củng cố thực lực nước Mỹ và vị trí siêu cường duy nhất của Mỹ, thiết lập một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo mà ở đó giá trị của Mỹ được phổ biến, ngăn chặn không cho bất cứ nước nào nổi lên đe doạ vị trí của Mỹ. Những nội dung điều chỉnh đáng chú ý trong Chiến lược an ninh Quốc gia mới dưới chính quyền G.W.Bush bao gồm: Thứ nhất, chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ phản ánh rất rõ việc xác định lại thứ tự ưu tiên các mối đe doạ đối với nước Mỹ; Thứ hai, các nước “bất trị” cũng được “nâng cấp” về thứ bậc trong đánh giá về những mối đe doạ đối với lợi ích của Mỹ; Thứ ba, Học thuyết đánh đòn phủ đầu lần đầu tiên được chính thức đưa vào Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ. Iraq thực chất là sự thử nghiệm đầu tiên của Học thuyết tấn công phủ đầu, cốt lõi của Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ. Sự thử nghiệm này để lại cho Mỹ những hậu quả nặng nề cả về mặt kinh tế và chính trị. Đặc biệt, đối với châu Âu, cuộc chiến ở Iraq đã đẩy mâu thuẫn và rạn nứt trong liên minh xuyên Đại Tây dương tới mức nghiêm trọng. 2.2. Điều chỉnh Chiến lƣợc dƣới chính quyền Obama 2.2.1. “Sức mạnh thông minh” và chủ nghĩa đa phương Chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa quốc tế tự do tương tự như Clinton, chính sách đối ngoại dưới chính quyền Obama khác biệt so với Bush trên 4 khía cạnh: Một là, nếu "cường quyền và đơn phương" là thương hiệu của chính sách đối ngoại dưới chính quyền Bush thì " sức mạnh thông minh" trở thành thương hiệu của chính quyền Obama; Hai là, chính quyền Obama đã chính thức từ bỏ thuyết “đánh đòn phủ đầu”, học thuyết đối ngoại chủ đạo dưới chính quyền Bush; Ba là, từ bỏ cách nói về “cuộc chiến chống khủng bố” của chính quyền Bush, giới hạn 12 hơn về kẻ thù của nước Mỹ, không quy kết tất cả các tổ chức thánh chiến hay các tín đồ Hồi giáo, 2.2.2. Chiến lược “tái cân bằng” của Obama Chính sách "tái cân bằng" hay xoay trục của Mỹ được xây dựng trên cơ sở sự ủng hộ lưỡng đảng và quan trọng hơn hết, nó xuất phát từ thực tế địa chiến lược thập kỷ đầu thế kỷ XXI và được hoạch định trên cơ sở những tính toán chiến lược lâu dài. Một là, Châu Á là khu vực ngày càng trở nên quan trọng đối với các lợi ích quốc gia của Mỹ. Hai là nhân tố Trung Quốc. Ba là sự can dự lớn hơn ở Đông Nam Á. 2.3. Tầm quan trọng của châu Âu trong chiến lƣợc của Mỹ 2.3.1. Cục diện khu vực châu Âu. Thập kỷ đầu thế kỷ XXI chứng kiến những chuyển biến chính trị xã hội mạnh mẽ ở Châu Âu. Bức tranh khu vực châu Âu đầu thế kỷ XXI nổi lên sáu đặc điểm lớn: Thứ nhất, các cuộc cách mạng màu được sự hậu thuẫn của Mỹ và phương Tây tạo ra sự bất ổn về an ninh, chính trị ở một số quốc gia Đông Âu và Trung Á; Thứ hai, tranh chấp lãnh thổ, tranh giành ảnh hưởng tại khu vực diễn ra quyết liệt; Thứ ba, lực lượng cực hữu có tư tưởng dân tộc cực đoan, bài ngoại, dành được ủng hộ khá cao của bộ phận cử tri vốn bất bình với chính sách của chính phủ. Thứ tư, bước vào thế kỷ 21, tính chất các vấn đề an ninh tại châu Âu cũng có nhiều thay đổi; Thứ năm là vai trò và hạn chế của các cơ chế hợp tác an ninh tại châu Âu; Thứ sáu là tiến trình mở rộng và nhất thể hóa của EU. 2.3.2. Lợi ích cơ bản của Mỹ ở châu Âu. Mục tiêu chiến lược của Mỹ ở châu Âu là thiết lập trật tự thế giới mới ở châu Âu do Washington chi phối, kiềm chế các nước đối thủ tiềm tàng, ngăn không cho bất cứ nước nào, đặc biệt là Nga nổi lên, thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ, ủng hộ công cuộc cải cách ở Nga, các nước SNG và các nước Đông Âu, thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Cho dù châu Á đang ngày càng trở nên quan trọng trong 13 chiến lược toàn cầu của Mỹ, châu Âu vẫn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược đối ngoại của Mỹ, bởi với vị thế của một siêu cường, Mỹ có lợi ích toàn cầu và vẫn phải can dự vào tất cả các khu vực trên thế giới. Lợi ích chiến lược là duy trì cân bằng quyền lực mới, một trật tự khu vực ở châu Âu do Washington chi phối, kiềm chế các nước đối thủ tiềm tàng. Lợi ích kinh tế là duy trì không gian kinh tế mở toàn cầu, thúc đẩy quan hệ kinh tế với châu Âu, trung tâm kinh tế hàng đầu trên thế giới nhằm thực hiện ưu tiên hàng đầu của Mỹ là chấn hưng nền kinh tế, thúc đẩy sự thịnh vượng của nước Mỹ. Lợi ích chính trị là duy trì và phổ biến những giá trị của phương Tây về dân chủ, nhân quyền, kinh tế thị trường, xã hội dân sự... Để làm được điều này, các đồng minh của Mỹ ở châu Âu đóng vai trò then chốt. Ngoài ra, Mỹ cũng có lợi ích thiết thực trong hợp tác với châu Âu đối phó với cách thách thức an ninh toàn cầu. 2.3.3 Ưu tiên chiến lược của châu Âu Trong khuôn khổ mục tiêu chiến lược lớn, Tây Âu triển khai 3 hướng ưu tiên chiến lược chính là: đẩy mạnh quá trình nhất thể hóa châu Âu; duy trì và củng cố quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ trong NATO; và từng bước thúc đẩy hợp tác và lôi kéo Nga hội nhập vào châu Âu. 2.4. Chiến lƣợc của Mỹ đối với châu Âu 2.4.1. Mục tiêu và nội dung chiến lược Chiến lược của Mỹ đối với châu Âu kể từ sau Chiến tranh lạnh hướng tới những mục tiêu chủ yếu là: (i) Duy trì sự tuân thủ nguyên tắc dân chủ của các đồng minh, tăng cường các mối quan hệ kinh tế có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng của Mỹ, duy trì quan hệ hợp tác an ninh chặt chẽ để giải quyết các vấn đề toàn cầu; (ii) Ngăn chặn và bảo vệ các thành viên NATO trước các mối đe doạ về lãnh thổ; (iii) Củng cố và hỗ trợ quá trình cải cách thị trường và dân chủ ở các nước Đông Âu, góp phần thúc đẩy sự ổn định ở châu Âu, thông qua 14 việc lôi kéo các nền dân chủ mới châu Âu vào mạng lưới quan hệ an ninh song phương và đa phương ngày càng phát triển; (iv) Ngăn chặn việc phổ biến vũ khí giết người hàng loạt thông qua sự hợp tác với các nước có tiến bộ kỹ thuật ở châu Âu; (v) Phát triển khả năng hiệu quả nhằm kiềm chế và giải quyết các cuộc xung đột khu vực, bao gồm cả khả năng quân sự cho việc giữ gìn hoà bình; (vi) Duy trì và củng cố hiệu quả của các tổ chức an ninh châu Âu, đặc biệt là NATO, làm phương tiện cơ bản, chủ yếu cho Mỹ duy trì vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng đối với các vấn đề an ninh châu Âu. Sáu nguyên tắc cơ bản trong chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Âu bao gồm: (i) chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia là nền tảng an ninh châu Âu ; (ii) An ninh châu Âu là không thể chia cắt; (iii) Mỹ tiếp tục duy trì cam kết đối với Điều 5 của NATO, tức một nước bị tấn công có nghĩa là tất cả bị tấn công; (iv) Mỹ ủng hộ việc trao đổi các thông tin quân sự, kể cả các chuyến thăm tới các căn cứ quân sự, quan sát các hoạt động quân sự và tập trận. (v) nguyên tắc không phổ biến vũ khí hạt nhân. ; (vi) dân chủ nhân quyền là thành tố bất biến trong chính sách của Mỹ đối với các khu vực. Mỹ ủng hộ mạnh mẽ tiến trình dân chủ ở các nước Đông Âu và Liên xô cũ, thể hiện rõ nét qua vai trò của Mỹ trong các cuộc cách mạng màu. 2.4.2. Chiến lược mở rộng NATO Mặc dù lý do của sự tồn tại chủ yếu của NATO không còn với sự tan rã của Liên Xô cũ, mục tiêu của Mỹ trong việc mở rộng NATO vẫn là mục tiêu ban đầu nhằm "duy trì sự có mặt của Mỹ, ngăn chặn Nga và kiềm chế Đức". Mở rộng là một bộ phận trong chiến lược bao trùm của Mỹ là xây dựng một châu Âu dân chủ và không chia cắt, đồng thời giúp cho Mỹ thực hiện việc tăng cường chia sẻ trách nhiệm giữa các nước đồng minh, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước thành viên mới trong các hoạt động của NATO. 15 Về cơ bản, việc mở rộng NATO và duy trì sự có mặt của quân đội cùng vũ khí hạt nhân của Mỹ ở châu Âu phục vụ những lợi ích chiến lược của khu vực này do nhiều nước châu Âu đặc biệt là những nước Đông Âu cũ mới gia nhập NATO, vẫn coi Nga là một thách thức tiềm tàng đối với an ninh của mình. Bên cạnh đó, việc duy trì và mở rộng NATO được coi là một phương cách hữu hiệu để các nước châu Âu có thể đối phó với những thách thức mới và giúp cho châu Âu hạn chế và ngăn chặn các mâu thuẫn nội bộ. CHƢƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TRIỂN KHAI CHIẾN LƢỢC CHÂU ÂU CỦA MỸ VÀ TRIỂN VỌNG 3.1. Tác động đối với quan hệ Mỹ - châu Âu 3.1.1. EU thúc đẩy chính sách an ninh và phòng thủ châu Âu (ESDP) ESPD ra đời nhằm tăng cường năng lực và vai trò của EU trong các vấn đề an ninh khu vực, giảm dần lệ thuộc vào Mỹ. Nhìn chung, Mỹ ủng hộ việc EU đóng vai trò tích cực hơn trong đảm bảo an ninh tại châu Âu và cơ bản không phản đối việc EU triển khai ESDP. Tuy nhiên, Mỹ không muốn ESDP làm giảm vai trò của NATO và đòi EU phải tôn trọng “nguyên tắc 3D”: tránh chia rẽ ESDP và NATO (no decoupling), không lặp lại các cơ chế của NATO trong ESDP (no duplication) và không phân biệt đối xử với các nước thành viên NATO không thuộc EU (no discrimination). Sự hình thành và phát triển của ESDP là một bổ sung quan trọng cho nỗ lực xây dựng chính sách đối ngoại chung của EU. Với ESDP, EU đã có thêm “công cụ” thực hiện chính sách đối ngoại của mình bên cạnh các tuyên bố chính trị và các nỗ lực ngoại giao, tăng vai trò và uy tín của khối trong tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế và toàn cầu. 3.1.2. Tác động đối với quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Với sự mở rộng và tăng cường nhất thể hóa cùng với chính sách an 16 ninh và phòng thủ châu Âu, châu Âu muốn có vai trò lãnh đạo lớn hơn trong NATO, nhấn mạnh cải tổ NATO để biến NATO thành một thực thể có hai trụ cột cân bằng và hai đối tác bình đẳng, từ đó tạo nên vị thế lớn trong việc giải quyết các vấn đề an ninh, chính trị của châu Âu. Trong khi đó, Mỹ muốn châu Âu chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng trong giải quyết công việc của NATO. Tuy nhiên, Mỹ vẫn muốn duy trì vị trí lãnh đạo toàn bộ hoạt động của NATO. Sự tranh giành vai trò chi phối thể hiện qua những bất đồng giữa hai bên, cụ thể là bất đồng trong vấn đề nắm quyền chỉ huy NATO; trong việc kết nạp thành viên mới; bất đồng về chia sẻ trách nhiệm trong quá trình mở rộng và trong việc xác định chiến lược mới của NATO. 3.2. Tác động đối với quan hệ Nga - Mỹ và Nga - NATO 3.2.1. Đối với quan hệ Nga - Mỹ. Triển khai chiến lược châu Âu của Mỹ tác động đáng kể đến quan hệ giữa Nga và Mỹ, đặc biệt làm bộc lộ rõ những yếu tố khác biệt lợi ích chiến lược giữa hai bên. Một là, sự khác biệt về lợi ích chiến lược giữa Nga và Mỹ. Hai là, cạnh tranh ảnh hưởng ở khu vực "hậu Xô-viết". Ba là, vấn đề lá chắn tên lửa, vốn là nguồn gốc mâu thuẫn chủ yếu trong quan hệ Mỹ-Nga trong những năm gần đây, tuy phần nào đã được hóa giải nhưng chưa triệt để và có khả năng quay trở lại gây phức tạp cho quan hệ Nga-Mỹ. Bốn là, quan điểm của hai bên còn nhiều khác biệt về tương lai của Nam Ossetia và Abkhazia cũng như vấn đề công nhận độc lập của Kosovo. Năm là, sự khác biệt về nhiều vấn đề khu vực và quốc tế, đặc biệt là các vấn đề Iran, Triều tiên, Lybia và Trung Đông. 3.2.2. Đối với quan hệ Nga – NATO. Chiến lược Đông tiến của NATO là một trong những mâu thuẫn lớn nhất giữa Nga và phương Tây. Nga cho rằng mở rộng NATO thực chất là mở rộng ảnh hưởng của phương Tây, thu hẹp không gian chiến lược và xâm phạm khu vực đặc quyền lợi ích của Nga. Nga phản đối quyết liệt quyết định mở rộng NATO sang phía Đông. Mỹ và NATO bất chấp sự 17 phản đối quyết liệt của Nga vẫn tiếp tục đẩy mạnh quá trình mở rộng NATO. Tình thế bất lợi này buộc Nga phải có những điều chỉnh mới mạnh mẽ hơn trong chiến lược đối ngoại trên cơ sở đánh giá cụ thể tương quan lực lượng và khả năng phát huy những tiềm lực có thể có trong đó có sức mạnh quân sự. 3.3. Nghiên cứu tình huống: Quan hệ Mỹ - châu Âu trong cuộc khủng hoảng Ukraine 2014. Khủng hoảng tại Ukraina đầu năm 2014 là khủng hoảng nghiêm trọng nhất, làm rung chuyển nền tảng an ninh khu vực, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và tập hợp lực lượng giữa các nước lớn. Xét từ góc độ NATO và quan hệ với Nga, có thể nói đây là thất bại trong chiến lược của NATO trong hai thập kỷ sau chiến tranh lạnh. Mặt khác, khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài ở Ukraine cho thấy châu Âu vẫn là một trong những khu vực chiến lược trọng yếu của Mỹ, tâm điểm chính sách của Mỹ, ít nhất là trong ngắn hạn. Khủng hoảng Ukraine còn có tác động hết sức quan trọng đối với tập hợp lực lượng trên thế giới, đặc biệt là quan hệ giữa Nga và Trung Quốc. 3.4. Triển vọng quan hệ Mỹ - châu Âu Trên cơ sở những nhân tố chủ yếu tác động đến chính sách và quan hệ của Mỹ với EU trong thời gian tới như: i) so sánh lực lượng giữa Mỹ và châu Âu; sự phụ thuộc chặt chẽ giữa Mỹ và EU cả về an ninh và kinh tế; (ii) lợi ích và ưu tiên chiến lược của Mỹ ; (iii) tầm vóc và ảnh hưởng của châu Âu sau khủng hoảng khu vực đồng Euro; iv) tầm quan trọng và ảnh hưởng của Nga ngày càng tăng lên ở châu Âu; có thể thấy một số mặt thuận lợi và thách thức trong triển khai chính sách châu Âu của Mỹ trong thời gian tới. Về mặt thuận lợi, so sánh lực lượng giữa Mỹ và châu Âu, sự gắn bó chặt chẽ và chia sẻ lợi ích chiến lược giữa Mỹ và châu Âu tiếp tục là yếu tố thuận lợi cho việc triển khai và theo đuổi các mục tiêu và lợi ích của Mỹ ở châu Âu. Cho dù suy yếu tương đối, Mỹ vẫn là siêu cường 18 duy nhất với vai trò toàn cầu và chủ đạo đối với an ninh châu Âu. Mỹ là nước duy nhất có đủ sức mạnh cứng và sức mạnh mềm để cùng EU lôi kéo nước Nga vào các công việc của thế giới và châu Âu. Mỹ cũng là nước duy nhất có thể đảm bảo về an ninh đối với những nước EU mới, vốn vẫn còn coi Nga là mối đe dọa. Bên cạnh đó, EU vẫn chưa là một cường quốc theo nghĩa truyền thống với một tiếng nói chung trong các vấn đề an ninh cũng như trong quan hệ với Nga. EU tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ trong việc giải quyết các công việc an ninh lớn của mình. Về mặt thách thức, trong thời gian tới đặc biệt dưới chính quyền Putin, sự trở lại của nước Nga, với tư cách là một cường quốc quân sự hạt nhân, khẳng định vị trí "'độc tôn" của mình ở khu vực "lợi ích đặc quyền", là một thách thức lớn đối với ý đồ bá quyền và việc theo đuổi lợi ích của Mỹ ở châu Âu. Nước Nga sẽ không chấp nhận để Mỹ và phương Tây "chèn ép", thu hẹp không gian chiến lược. Đây là nhân tố hết sức quan trọng tác động tới chiến lược châu Âu của Mỹ và quan hệ Mỹ - châu Âu trong thời gian tới. Bên cạnh đó, khủng hoảng khu vực đồng Euro đã tác động đáng kể đến vai trò và vị thế của châu Âu nói chung và trong chiến lược của Mỹ nói riêng. Đây cũng là mặt thách thức trong chính sách của Mỹ đối với châu Âu, trong bối cảnh vai trò "đối tác toàn cầu" và sự chia sẻ gánh nặng của châu Âu ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược của Mỹ. 19 KẾT LUẬN 1. Thập kỷ đầu thế kỷ XXI chứng kiến những chuyển biến to lớn trong nền chính trị quốc tế, đặc biệt là với sự chuyển dịch cán cân sức mạnh toàn cầu từ Tây sang Đông. Mặc dù suy yếu tương đối, Mỹ vẫn là cường quốc toàn cầu, một cực nổi trội trong một thế giới ngày càng trở nên đa cực. Mục tiêu xuyên suốt của Mỹ là duy trì và củng cố vai trò lãnh đạo thế giới, ngăn không để một cường quốc hay một trung tâm quyền lực nào nổi lên thách thức địa vị siêu cường của Mỹ. Để đạt được mục tiêu này, một mặt Mỹ phải duy trì ưu thế tuyệt đối về sức mạnh kinh tế, quân sự. Mặt khác, Mỹ phải kiểm soát được các địa bàn có các vị trí chiến lược quan trọng trên thế giới trong đó châu Âu và châu Á- Thái Bình Dương là hai khu vực chiến lược trọng yếu. Như vậy, mục tiêu lâu dài của Mỹ ở châu Âu là duy trì hòa bình và ổn định, kiềm chế không cho bất kỷ nước nào hay nhóm nước nào nổi lên thách thức vai trò lãnh đạo của Mỹ, thiết lập trật tự thế giới mới ở châu Âu do Mỹ lãnh đạo. 2. Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ đã có những điều chỉnh hết sức quan trọng dưới chính quyền Bush và Obama. Đặc biệt, sự kiện ngày 11/9/2001 và cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ là một bước ngoặt trong chiến lược an ninh quốc gia của chính quyền Bush. Mặc dù mục tiêu lâu dài và xuyên suốt là yếu tố bất biến, nội dung chiến lược có những thay đổi quan trọng trong xác định mối đe dọa đối với lợi ích quốc gia và biện pháp triển khai chiến lược. Cuộc chiến chống khủng bố trở thành sợi chỉ xuyên suốt, ngọn cờ tập hợp lực lượng và học thuyết “đánh đòn phủ đầu” trở thành biện pháp chiến lược quân sự mới trong chiến lược an ninh quốc gia của chính quyền Bush. Dưới chính quyền Obama, chính sách đối ngoại của Mỹ đã có những thay đổi quan trọng so với chính quyền tiền nhiệm của Tổng thống Bush. Chiến lược đối ngoại trên cơ sở "quyền lực thông minh" đã thay thế cho chính sách đối ngoại cường quyền, đơn phương, vốn là nguyên nhân gây rạn nứt 20 nghiêm trọng quan hệ của Mỹ với các đồng minh bên kia bờ Đại Tây Dươngcũng như quan hệ Mỹ-Nga. Điều chỉnh chiến lược đối ngoại dưới chính quyền Obama theo hướng chú trọng "quyền lực thông minh", nhấn mạnh vai trò của ngoại giao, chủ nghĩa đa phương, tạo ra những tác động tích cực đối với quan

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_chau_au_trong_chien_luoc_toan_cau_cua_my_tha.pdf
Tài liệu liên quan