Tóm tắt Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam

Tăng cường tuyên truyền đối với các doanh nghiệp, các bên

liên quan về nghĩa vụ và lợi ích của việc công bố CSR. Việc tuyên

truyền có thể bằng nhiều cách như: Mở các lớp tập huấn cho các nhà

quản lý, lãnh đạo các doanh nghiệp, tuyên truyền qua phương tiện thông

tin đại chúng, tổ chức các chương trình hội thảo, hội nghị mời các doanh

nghiệp tham gia

• Phối hợp với Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững

(VBCSD) và các tổ chức liên quan mở các lớp hướng dẫn lập và CBTT

phát triển bền vững của GRI (Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu) và

“Sổ tay hướng dẫn lập báo cáo phát triển bền vững” do Ủy ban Chứng

khoán Nhà nước phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) ban

hành và đang khuyến khích áp dụng tại Việt Nam.

• Nâng cao chất lượng thông tin công bố, đảm bảo việc lập báo

cáo CSR theo đúng các quy định hiện hành.

• Cần có quy định cụ thể về người hoặc nhóm người lập báo cáo

CSR và khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện kiểm toán báo cáo

CSR

pdf26 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 21/02/2022 | Lượt xem: 115 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng trình nghiên cứu khá toàn diện về quản trị công ty và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam. Luận án đã kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính để nghiên cứu sự ảnh hưởng của QTCT đến mức độ CBTT TNXH của doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam. Từ những kết quả nghiên cứu này là giúp nhà đầu tư cân nhắc kỹ lưỡng, phân tích thực trạng của từng doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn và hợp lý. Đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước xem xét đưa ra cơ chế giám sát chặt 5 chẽ hơn trách nhiệm công bố thông tin, trong đó có thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu và kết luận thì kết cấu của luận án được xác định như sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị công ty, công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng về quản trị công ty và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam. Chương 4: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam. Chương 5: Hàm ý chính sách. CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY, CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Quản trị công ty 1.1.1. Khái niệm quản trị công ty: QTCT là một hệ thống các nguyên tắc, đặc điểm thuộc HĐQT, BGĐ, Cổ đông, Kiểm soát/Kiểm toán và các đặc điểm khác nhằm định hướng cho sự phát triển và kiểm soát hoạt động của công ty. 1.1.2. Đặc điểm quản trị công ty: Đặc điểm QTCT được biểu hiện thông qua một số đặc điểm sau: Quy mô HĐQT; Tính độc lập của HĐQT; Thành viên HĐQT nước ngoài; Thành viên HĐQT là nữ; Tuổi bình quân của HĐQT; Số lượng cuộc họp HĐQT; Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc điều hành; Quy mô BGĐ; Giám đốc độc lập; Giám đốc nước ngoài; Giám đốc nữ; Cổ đông lớn; Cổ đông tổ chức; Cổ đông nhà nước; Cổ 6 đông nước ngoài; Sở hữu của HĐQT; Sở hữu của BGĐ; Cổ đông gia đình; Quy mô BKS; Số lượng cuộc họp BKS; Kiểm toán Big Four. 1.1.3. Đo lường chất lượng quản trị công ty: Có nhiều phương pháp đo lường chất lượng QTCT như sử dụng chỉ số quản trị doanh nghiệp; sử dụng hệ thống xếp hạng QTCT (G-Index); sử dụng chỉ số Gov-Score. 1.2. Công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp CSR được hiểu là toàn bộ trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường, lao động, xã hội và các yếu tố khác có sự ảnh hưởng đến xã hội từ các quyết định và hoạt động của chính doanh nghiệp đó. 1.2.2. Khái niệm về công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp CBTT về CSR là sự CBTT của công ty về tài chính và phi tài chính, về sự tham gia CSR. 1.2.3. Nội dung báo cáo về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Có nhiều Tổ chức đưa ra các tiêu chuẩn về báo cáo CSR như của Hiệp ước toàn cầu Liên hợp quốc – UNGC; ISO 26000 - Trách nhiệm xã hội; theo sáng kiến toàn cầu – GRI; Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính. 1.2.4. Đo lường mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.2.4.1. Dựa trên chỉ số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có sẵn - Chỉ số KLD, dựa trên tám đặc tính của các hoạt động xã hội (quan hệ cộng đồng, quan hệ nhân viên, môi trường, sản phẩm, cư xử với phụ nữ và người thiểu số, hợp đồng quân sự, điện hạt nhân, và tài trợ). - Cơ sở dữ liệu CSID, đo lường trung bình cộng giữa điểm mạnh và điểm yếu của mỗi công ty trong bảy yếu tố: cộng đồng, đa dạng, quan 7 hệ nhân viên, môi trường, hoạt động quốc tế, sản phẩm và thực tiễn kinh doanh, và quản trị doanh nghiệp. 1.2.4.2. Tự xây dựng chỉ số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (a) Đo lường dựa trên chỉ số đơn và đa vấn đề (Single and multiple issue indicators). Chỉ số đơn vấn đề: tức là việc tính chỉ số CSR chỉ dựa trên một vấn đề nào đó của CSR như sử dụng chỉ tiêu hiệu quả kiểm soát ô nhiễm được báo cáo bởi Hội đồng những vấn đề kinh tế ưu tiên (CEP). Chỉ số đa vấn đề: kết hợp toàn bộ các vấn đề trong chỉ số đơn vấn đề thành chỉ số đa vấn đề để tiến hành tính chỉ số CSR. (b) Đo lường dựa trên phương pháp phân tích nội dung (Content analysis of document): Dựa trên các nội dung CBTT về CSR (môi trường, nhân viên, người tiêu dùng, xã hội) của doanh nghiệp, nghiên cứu sẽ tính chỉ số CSR. 1.3. Các Lý thuyết liên quan đến quản trị công ty và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory); Lý thuyết đại diện (Agency Theory); (Signaling Theory); Lý thuyết tính hợp lý (Legitimacy Theory); Lý thuyết chi phí sở hữu (Property Cost Theory); Lý thuyết chi phí chính trị (Political Economy Theory) 1.4. Ảnh hƣởng của đặc điểm quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.4.1. Ảnh hưởng của các đặc điểm hội đồng quản trị đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1.4.1.1. Quy mô hội đồng quản trị: Một số nghiên cứu cho thấy quy mô HĐQT có tác động tích cực đến mức độ CBTT trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (xem Cheng và Courtenay, 2006; Prado-Lorenzo và Garcia- Sanchez, 2010; Sánchez và cộng sự, 2011; Ali và Atan, 2013; Frias- 8 Aceituno và cộng sự, 2013; Majeed và cộng sự, 2015; Rahman và Ismail, 2016). 1.4.1.2. Hội đồng quản trị độc lập: Qua nghiên cứu của một số nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tỷ lệ phần trăm (%) thành viên HĐQT độc lập càng cao thì mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp càng nhiều (xem Sánchez và cộng sự, 2011; Khan và cộng sự, 2012; Ali và Atan, 2013; Frias và Aceituno và cộng sự, 2013; Jizi và cộng sự, 2014; Hong và cộng sự, 2016). 1.4.1.3. Hội đồng quản trị nước ngoài: Nghiên cứu của Frias và Aceituno và cộng sự (2013) chỉ ra được mối quan hệ tích cực giữa tỷ lệ thành viên HĐQT nước ngoài với mức độ CBTT trách nhiệm xã hội bởi sự hiện diện của thành viên HĐQT là người nước ngoài sẽ tác động đến hành vi kinh doanh của doanh nghiệp theo văn hóa của mỗi quốc gia thành viên HĐQT, từ đó ảnh hưởng đến trách nhiệm CBTT trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. 1.4.1.4. Hội đồng quản trị nữ: Giannarakis (2014) cho rằng có phụ nữ hay không trong HĐQT thì cũng không ảnh hưởng đến mức độ CBTT trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, còn Majeed và cộng sự, (2015) lại cho rằng chính có phụ nữ trong HĐQT thì thông tin CSR được công bố ít đi do họ tính cẩn thận của họ, họ sợ rằng mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sẽ có tác động tiêu cực tới hoạt động của công ty. Nhưng Frias-Aceituno và cộng sự (2013) lại cho rằng chính đặc điểm HĐQT là nữ có tác động tích cực tới mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. 1.4.1.5. Tuổi bình quân của Hội đồng quản trị: Các giám đốc lớn tuổi có thể có nhiều kinh nghiện nên khả năng phán đoán tốt hơn (Bantel và Jackson, 1989); do đó, họ có thể tránh được sự hiểu biết sai lệch từ việc áp dụng các mô hình quản trị kinh doanh mới (Vroom và Pahl, 1971). 9 1.4.1.6. Cuộc họp Hội đồng quản trị: Một số nghiên cứu cho thấy số lượng cuộc họp HĐQT có quan hệ tích cực với CBTT trách nhiệm xã hội (xem Prado-Lorenzo và Garcia-Sanchez, 2010; Frias và Aceituno và cộng sự, 2013; Jizi và cộng sự, 2014). Họ lý giải rằng việc họp HĐQT nhiều sẽ nhắc nhở Ban giam đốc CBTT nhiều hơn, trong đó có thông tin về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Ngược lại, nghiên cứu của Sánchez và cộng sự (2011) lại cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa số lượng cuộc họp HĐQT với CBTT trách nhiệm xã hội. 1.4.1.7. Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành: Các nghiên cứu thực nghiệm của một số nhà khoa học (xem Haniffa và Cooke, 2005; Barako và cộng sự, 2006; Sánchez và cộng sự, 2011; Jizi và cộng sự, 2014; Habbash và Habbash, 2016) chỉ ra rằng nếu có sự kiêm nghiệm thì mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sẽ nhiều hơn. Do sự kiêm nhiệm đảm bảo tính thống nhất của sự quản lý trong CBTT trách nhiệm xã hội. 1.4.2. Ảnh hưởng của các đặc điểm ban giám đốc đến mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. 1.4.2.1. Quy mô ban giám đốc: Một số nghiên cứu đều chỉ ra rằng nếu quy mô BGĐ càng lớn thì mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội càng nhiều (xem Khan, 2010; Razak và Mustapha, 2013). Điều này được các tác giả giải thích rằng trong một công ty khi có sự phân chia công việc giữa các giám đốc cao thì yêu cầu của bộ phận này đối với bộ phận kia càng cao, do vậy mức độ CBTT cũng sẽ nhiều hơn. 1.4.2.2. Giám đốc độc lập: Một số nhà nghiên cứu trước đây đã báo cáo mối quan hệ tích cực đáng kể giữa tính độc lập của BGĐ và báo cáo trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (xem Cheng và Courtenay, 2006; Clemente và Labat, 2009; Razak và Mustapha, 2013; Rusmanto và cộng sự, 2014), do sự có mặt của giám đốc độc lập giúp đảm bảo quyền lợi của các cổ đông nên sẽ thúc đẩy mức độ CBTT CSR. 10 1.4.2.3. Giám đốc nước ngoài: Từ quan điểm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng giám đốc nước ngoài tác động tích cực đến việc tăng cường công bố trách nhiệm xã hội (xem Khan, 2010; Rusmanto và cộng sự, 2014). 1.4.2.4. Giám đốc nữ: Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sự đa dạng giới tính trong BGĐ công ty thì mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội cao hơn (xem Khan, 2010; Prado-Lorenzo và Garcia-Sanchez, 2010; Dienes và Velte, 2016) nhưng cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng giám đốc nữ tiêu cực có tác động đến việc tăng cường công bố trách nhiệm xã hội (Rusmanto và cộng sự, 2014). 1.4.3. Ảnh hưởng của các đặc điểm cổ đông đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. 1.4.3.1. Cổ đông lớn: Một số nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng cổ đông lớn có tác động tích cực đến mức độ CBTT trách nhiệm xã hội (xem Said và cộng sự, 2009; Barako và cộng sự, 2006; Wang và cộng sự, 2014; Majeed và cộng sự, 2015) do mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà quản trị quản trị nên để đảm bảo lợi ích, càng nhiều cổ đông lớn càng có xu hướng thúc đẩy ban quản trị CBTT nhiều hơn trong đó có thông tin trách nhiệm xã hội. 1.4.3.2. Cổ đông tổ chức: Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nhiều hơn khi doanh nghiệp có cổ đông là tổ chức (xem Barako và cộng sự, 2006; Fauzi và cộng sự, 2007; Majeed và cộng sự, 2015; Hong và cộng sự, 2016). 1.4.3.3. Cổ đông nhà nước: Một số nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sở hữu nhà nước và CBTT trách nhiệm xã hội (xem Said và cộng sự, 2009; Khan và cộng sự, 2012; Sufian và Zahan, 2013; Juhmani, 2013; Rahman và Ismail, 2016; Habbash và Habbash, 2016) do ngoài vấn đề về lợi ích thì cổ đông nhà nước còn quan tâm đến vấn đề về xã hội. 11 1.4.3.4. Cổ đông nước ngoài: Các nghiên cứu đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sở hữu nước ngoài với CBTT trách nhiệm xã hội (xem Barako và cộng sự, 2006; Haniffa và Cooke, 2005; Said và cộng sự, 2009; Khan và cộng sự, 2012; Hu và cộng sự, 2016) bởi cổ đông nước ngoài nhu cầu thông tin nhiều hơn và có những hiểu biết về các thị trường nước ngoài nên sẽ khuyến khích CBTT bao gồm cả thông tin về trách nhiệm xã hội để đưa ra quyết định. 1.4.3.5. Sở hữu của hội đồng quản trị: Kết quả từ các nghiên cứu thực nghiệm đều cho rằng nếu tỷ lệ cổ phần do HĐQT nắm giữ càng cao thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (xem Karamanou và Vafea, 2005; Mohd Ghazali, 2007; Block và Wagner, 2010; Khan và cộng sự, 2012; Juhmani, 2013). Họ lập luận rằng, các thành viên HĐQT đã được BGĐ cung cấp thông tin cơ bản đầy đủ; các thành viên HĐQT có xu hướng quan tâm đến lợi ích của họ hơn là thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội nên sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ CBTT về trách nhiệm xã hội. 1.4.3.6. Sở hữu của ban giám đốc: Nghiên cứu của một số nhà khoa học đã chỉ ra rằng sở hữu của BGĐ có mối quan hệ tiêu cực giữa sở hữu BGĐ và CBTT trách nhiệm xã hội (xem Said và cộng sự, 2009; Razak và Mustapha, 2013) do BGĐ là người CBTT trách nhiệm xã hội nên khi sở hữu tăng lên, nếu công bố nhiều thông tin không tốt thì có ảnh hưởng bất lợi cho BGĐ nếu CBTT nhiều. 1.4.3.7. Cổ đông gia đình: Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng sở hữu của gia đình có mối quan hệ tích cực với mức độ CBTT trách nhiệm xã hội (xem Block và Wagner, 2010; Block và cộng sự, 2015; Habbash và Habbash, 2016). 1.4.4. Ảnh hưởng của các đặc điểm Kiểm soát/Kiểm toán đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. 12 1.4.4.1. Quy mô Ban kiểm soát: Quy mô BKS được đo lường bởi số lượng thành viên BKS. Nghiên cứu của cho thấy quy mô BKS có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến mức độ CBTT CSR (xem Jizi và cộng sự, 2014; Dienes và Velte, 2016) do khi quy mô BKS tăng lên sẽ yêu cầu nhiều thông tin hơn để phục vụ việc kiểm soát trong đó có thông tin về CSR. 1.4.4.2. Số lượng cuộc họp ban kiểm soát: Số lượng cuộc họp BKS được đo lường bằng số lượng cuộc họp của BKS trong năm. Nghiên cứu của một số nhà khoa học đã chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa số lượng cuộc họp BKS với mức độ CBTT trách nhiệm xã hội (xem Karamanou và Vafeas, 2005; Jizi và cộng sự, 2014) do cần nhiều thông tin phục vụ cho hoạt động của BKS. Còn nghiên cứu của Dienes và Velte (2016) thì lại cho rằng số lượng cuộc họp của BKS càng nhiều thì thông tin về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp càng ít được công bố. 1.4.4.3. Kiểm toán Big Four: Biến kiểm toán Big Four được đo lường bằng thanh đo định danh, nghĩa là nếu công ty được kiểm toán bởi Big Four là 1, ngược lại là 0. Nghiên cứu của Barako và cộng sự (2006) đã chỉ ra đơn vị được kiểm toán bởi Big Four sẽ làm tăng chất lượng CBTT của công ty. 1.5. Ảnh hƣởng của chất lƣợng quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việc nghiên cứu về ảnh hưởng của chất lượng QTCT ảnh hưởng đến mức độ CBTT CSR trên thế giới hiện này là khá hạn chế. Nghiên cứu của Chan và cộng sự (2014) trên 222 doanh nghiệp niêm yết ở Australia cho thấy chất lượng QTCT có ảnh hưởng tích cực tới mức độ CBTT CSR. 13 CHƢƠNG II: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1. Giả thuyết nguyên cứu Tổng hợp các giả thuyết được trình bày trong Bảng 2.1 Bảng 2.1: Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết Chiều hƣớng tác động dự kiến Giả thuyết Chiều hƣớng tác động dự kiến H1 + H12 + H2 + H13 + H3 + H14 - H4 + H15 - H5 - H16 - H6 + H17 + H7 + H18 - H8 + H19 + H9 + H20 + H10 + H21 + H11 + H22 + Nguồn: Tác giả tổng hợp 2.2. Mô hình nghiên cứu 2.2.1. Mô hình ảnh hưởng của đặc điểm quản trị công ty tới mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp CSRD1 = β0 + βi*HĐQT +αj*BGĐ + £l*CĐ + ¥m*KSKT + πn*BienKS + ε Trong đó: CSRD1 là mức độ CBTT CSR; i = 1, 2, .7; j = 1,2, 3, 4; l = 1, 2, 7; m = 1, 2, 3; n = 1, 2, 3, 4 2.2.2. Mô hình ảnh hưởng của chất lượng quản trị công ty tới mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp CSRD2 = µ0 + µ1*Gov-Score + µ2*TTS + µ3*ROA + µ4*ROE + 14 µ5*Tuoi + αi Trong đó: CSRD2 là mức độ CBTT CSR; Gov-Score là Chất lượng QTCT; Tổng tài sản (TTS), Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và Tuổi công ty (Tuoi) 2.3. Đo lƣờng các biến nghiên cứu 2.3.1. Đo lường đặc điểm chất lượng quản trị Bảng 2.2. Đo lường đặc điểm chất lượng quản trị Tên biến Mô tả Đo lƣờng HĐQM Quy mô HĐQT Số lượng thành viên HĐQT HĐĐL HĐQT độc lập Tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập so với tổng số thành viên HĐQT HĐNg HĐQT nước ngoài Tỷ lệ thành viên HĐQT là người nước ngoài so với tổng số thành viên HĐQT HĐNu HĐQT nữ Có thành viên nữ = 1; Không có thành viên nữ = 0 HĐTu Tuổi bình quân của HĐQT Tuổi bình quân các thành viên HĐQT HĐHo Cuộc họp HĐQT trong năm Có họp HĐQT từ 4 lần/năm = 1; Họp HĐQT dưới 4 lần/năm = 0 HĐGĐ Chủ tịch HĐQT kiêm GĐ điều hành Có Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm giám đốc điều hành = 1; Không kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành = 0 GĐQM Quy mô BGĐ Số lượng thành viên trong BGĐ công ty GĐĐL Giám đốc độc lập Có giám đốc độc lập = 1; Không có giám đốc độc lập = 0; GĐNg Giám đốc nước ngoài Có giám đốc là người nước ngoài = 1; Không có giám đốc là người nước ngoài = 0; 15 Tên biến Mô tả Đo lƣờng GĐNu Giám đốc nữ Tỷ lệ giám đốc nữ trong BGĐ CĐLo Cổ đông lớn Số lượng cổ phần của cổ đông lớn/tổng số cổ phần CĐTC Cổ đông tổ chức Số lượng cổ phần của cổ đông tổ chức/tổng số cổ phần CĐNN Sở hữu của nhà nước Số lượng cổ phần của cổ đông nhà nước/tổng số cổ phần CĐHĐ Sở hữu của HĐQT Số lượng cổ phần của cổ đông là thành viên HĐQT/tổng số cổ phần CĐGĐ Sở hữu của BGĐ Số lượng cổ phần của cổ đông là thành viên BGĐ/tổng số cổ phần CĐNg Cổ đông nước ngoài Có cổ đông người nước ngoài = 1; Không có cổ đông người nước ngoài = 0 CĐGĐi Cổ đông gia đình Có cổ đông người trong một gia đình = 1; Không có cổ đông người trong một gia đình = 0 KSQM Quy mô BKS Số thành viên KSHo Số lượng cuộc họp BKS Có họp BKS = 1; Không có họp BKS = 0 KTBF Công ty kiểm toán thuộc Big Four Có kiểm toán Big Four = 1; Không có kiểm toán Big Four = 0 Nguồn: Tác giả tổng hợp 2.3.2. Đo lường chất lượng chất lượng quản trị Việc đo lường chất lượng QTCT được xác định như công thức như sau: ∑ Trong đó, Gov-Scorei: Chỉ số chất lượng QTCT của doanh nghiệp i. Yij = 1 nếu chỉ mục QTCT phù hợp; Yij = 0 nếu chỉ mục QTCT không phù hợp. 16 2.3.3. Đo lường mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Mô hình về việc CBTTXH đo tổng số điểm công bố của một công ty như sau: ∑ Với Yij là 1, nếu chỉ mục j được công bố và 0 nếu chỉ mục j không được công bố; n là số chỉ mục phải công bố. 2.4. Thu thập dữ liệu 2.4.1. Dữ liệu thứ cấp Nghiên cứu này được tiến hành trên mẫu là 529 doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, thương mại và dịch vụ niêm yết ở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE), chiếm tỷ lệ 72,7% số lượng doanh nghiệp niêm yết. 2.4.2. Dữ liệu sơ cấp Để làm sáng tỏ một số kết quả nghiên cứu định lượng như tại sao quy mô HĐQT, mức độ độc lập của HĐQT, tuổi bình quân của các thành viên HĐQT, tỷ lệ sở hữu cổ đông lớn và quy mô BKS không tác động tới mức độ CBTT CSR, tại sao tỷ lệ sở hữu cổ đông tổ chức càng lớn thì mức độ CBTT CSR càng thấp và tại sao tỷ lệ sở hữu của cổ đông nhà nước nhà nước càng lớn thì mức độ CBTT CSR càng lớn, tác giả tiến hành xây dựng bảng câu hỏi bán cấu trúc. 2.5. Xử lý dữ liệu 2.5.1. Xử lý dữ liệu thứ cấp Tác giả dùng phương pháp thống kê mô tả để so sánh, đánh giá QTCT, mức độ CBTT CSR của các doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Đồng thời, dùng phần mềm SPSS để tổng hợp, so sánh giữa các nhóm ngành. 2.5.2. Xử lý dữ liệu sơ cấp Tác giả dùng phương pháp thống kê các câu trả lời và có trích dẫn một số câu trả lời theo bảng câu hỏi bán cấu trúc nhằm đưa ra các 17 nhận xét, đánh giá các nguyên nhân một số đặc điểm QTCT tới mức độ CBTT trách nhiệm xã hôi của doanh nghiệp. CHƢƠNG III: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 3.1. Thực trạng về quản trị công ty - Các doanh nghiệp còn chưa chấp hành đúng các quy định của nhà nước về QTCT như Công ty cổ phần Cảng rau quả chỉ có 02 thành viên HĐQT trong khi quy định tối thiểu là 03 thành viên; theo quy định có ít nhất 1/3 thành viên HĐQT là thành viên độc lập, song có tới 323 doanh nghiệp (chiếm 61,06%) không đạt tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, đặc biệt có 143 doanh nghiệp không có thành viên HĐQT độc lập; có 134 doanh nghiệp trong số 529 doanh nghiệp có chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm chức danh giám đốc điều hành, chiếm tỷ lệ 25,33% số lượng doanh nghiệp vi phạm quy định chủ tịch HĐQT không được kiêm nhiệm chức danh giám đốc điều hành; theo quy định số lượng kiểm soát viên trong BKS của công ty ít nhất là 03 người và nhiều nhất là 05 người, tuy nhiên số lượng BKS có dưới 3 người là 23 doanh nghiệp (chiếm 4,35%), số lượng BKS có trên 5 người là 08 doanh nghiệp (chiếm 1,51%) - Khi kiểm tra sự khác biệt về QTCT của các loại hình doanh nghiệp (sản xuất, thương mại, dịch vụ) cũng cho thấy một số đặc điểm có sự khác biệt như quy mô HĐQT, quy mô BGĐ, giám đốc độc lập, sở hữu của HĐQT, sở hữu của BGĐ. Điều đó cho thấy, yếu tố kinh doanh (loại hình kinh doanh) cũng có sự tác động tới QTCT hay nói cách khác, chính yếu tố kinh doanh khác nhau nên QTCT cũng khác nhau. - Chất lượng QTCT còn khá thấp (chỉ 36%), chất lượng QTCT của doanh nghiệp thương mại cao nhất (37%), tiếp đến doanh nghiệp sản xuất (36%) và cuối cùng là doanh nghiệp dịch vụ (34%). 18 3.2. Thực trạng mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam (1) Mức độ CBTT trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam là khá hạn chế. Chỉ số mức độ CBTT CSR bắt buộc trung bình chỉ đạt 46,57%, tức là chưa đạt mức 50%. Các chỉ số CSRD còn lại đều dưới 15%. (2) Không có bất kỳ một doanh nghiệp nào công bố 100% các chỉ mục (có 33 doanh nghiệp công bố 14/15 chỉ mục CSRD bắt buộc, đạt 93,33% là lớn nhất), nhiều doanh nghiệp không công bố bất kỳ một chỉ mục nào (giá trị bé nhất bằng 0) như Công ty cổ phần sách và thiết bị trường học Đà Nẵng. Không có bất kỳ một chỉ mục nào được được tất cả các doanh nghiệp công bố. (3) Các thang đo về CSRD khác nhau, thì chỉ số CSRD khác nhau. Các doanh nghiệp CBTT CSR bắt buộc nhiều nhất (CSRD bắt buộc = 46,57%) và CBTT CSRD tự nguyện ít nhất (CSRD tự nguyện = 7,14%). (4) Trong cùng một thang đo thì các loại hình doanh nghiệp khác nhau có sự khác biệt nhau về mức độ CBTT CSR (sig. = 0 < 5%). Doanh nghiệp sản xuất có mức độ CBTT CSR lớn hơn so với doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp dịch vụ. (5) Mức độ CBTT CSR theo GRI của Việt Nam thấp hơn các quốc gia khác trên thế giới. CHƢƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM Kết quả nghiên cứu cho thấy có 07 đặc điểm QTCT có ảnh 19 hưởng đến mức độ CBTT CSR. Nhóm đặc điểm HĐQT: qua kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy trong nhóm đặc điểm HĐQT có 02 đặc điểm có ảnh hưởng đến mức độ CBTT CSR. Đó là, các doanh nghiệp có tỉ lệ thành viên HĐQT là người nước ngoài càng cao thì mức độ CBTT CSR càng cao và doanh nghiệp có chủ tịch HĐQT kiêm GĐ điều hành thì mức độ CBTT CSR cao hơn so với doanh nghiệp có chủ tịch HĐQT không kiêm giám đốc điều hành. Điều này phù hợp với giả thuyết nghiên cứu ban đầu. Quy mô HĐQT: Quy mô HĐQT không ảnh hưởng đến mức độ CBTT CSR vì việc CBTT CSR do một cá nhân quyết định nên quy mô HĐQT nhiều hay ít không ảnh hưởng hoặc nhận thức về CSR của thành viên HĐQT còn hạn chế nên không CBTT CSR. HĐQT độc lập: Kết quả nghiên cứu định lượng thấy rằng mức độ độc lập của HĐQT không tác động tới mức độ CBTT CSR do các thành viên HĐQT độc lập họ có mức độ hiểu biết về thông tin CSR còn hạn chế, chủ yếu quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh doanh nên không yêu cầu doanh nghiệp CBTT CSR hoặc thông tin CSR mang tính chất tự nguyện nên thành viên HĐQT độc lập không yêu cầu công bố. Nhóm đặc điểm BGĐ: Có 02 đặc điểm có ảnh hưởng đến mức độ CBTT CSR là quy mô BGĐ càng nhiều thì mức độ CBTT CSR càng cao và doanh nghiệp có tỷ lệ nữ giám đốc càng cao thì mức độ CBTT CSR càng cao, điều này phù hợp với giả thuyết đưa ra và cũng phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới. Nhóm đặc điểm cổ đông: Có 02 đặc điểm ảnh hưởng tới mức độ CBTT CSR và đều khác với giả thuyết ban đầu. Một là doanh nghiệp có sở hữu của cổ đông có tổ chức càng cao thì mức độ CBTT CSR càng thấp. Điều này do cổ đông tổ chức chỉ quan tâm đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Habbash và Habbash, 2016; Hu và cộng sự, 2016. Thứ hai doanh nghiệp 20 có sở hữu nhà nước càng cao thì mức độ CBTT CSR càng cao do nhà nước đang hạn chế đầu tư ra ngoài nên nhà nước kiểm soát chặt chẽ, từ đó nhà nước yêu cầu nâng cao trách nhiệm người quản lý vốn nhà nước, người quản lý vốn nhà nước phải sẽ quản lý doanh nghiệp nhận đầu tư vốn chặt chẽ hơn. Từ đó, người đại diện vốn nhà nước sẽ yêu cầu doanh nghiệp nhận đầu tư vốn CBTT nhiều hơn. Cổ đông lớn: tỷ lệ sở hữu cổ đông lớn không ảnh hưởng đến mức độ CBTT CSR do cổ đông lớn có sự hiểu biết về CSR là hạn chế hoặc cổ đông lớn quan tâm đến hiệu quả kinh doanh. Nhóm đặc điểm kiểm soát/kiểm toán: Doanh nghiệp được kiểm toán bởi Big Four thì mức độ CBTT CSR nhiều hơn doanh nghiệp không được kiểm toán bởi Big Four phù hợp với nghiên cứu trước đây của Barako và cộng sự (2006). Quy mô BKS không có tác động tới mức độ CBTT CSR do BKS chủ yếu kiểm soát thông tin, tình hình tài chính và quy chế công ty,

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_nghien_cuu_anh_huong_cua_quan_tri_cong_ty_de.pdf
Tài liệu liên quan