Tóm tắt Luận án Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng Việt Nam

Chương 3

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

LÀNG NGHỀ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, sự phát triển về làng nghề và

tình hình ô nhiễm về môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng

3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh Đồng Bằng

sông Hồng tác động đến tình hình phát triển làng nghề và việc thực hiện pháp

luật bảo vệ môi trường làng nghề

* Điều kiện tự nhiên: Vùng đồng bằng sông Hồng là mô ̣t vùng đất có diê ̣n

tı́ch nhỏ he ̣p nhưng la ̣i có mâ ̣t đô ̣ dân số cao nhất cả nướ c, là mô ̣t điều kiê ̣n thúc

đẩy cho mô hı̀nh làng nghề phát triển bở i vı̀ dân số đông, sứ c ép viê ̣c làm gia

tăng nên ngườ i dân ở đây phải tı̀m kiếm các nghề phu ̣ bên ca ̣nh các nghề chı́nh

như nông nghiê ̣p, phu ̣c vu ̣ cho cuô ̣c sống của mı̀nh. Bên ca ̣nh đó, vùng còn có

rất nhiều những ưu thế ta ̣o điều kiê ̣n cho viê ̣c phát triển làng nghề như: hệ thống

giao thông - vâ ̣n tải thuận tiện, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản tương đối dồi

dào là nguồn nguyên liê ̣u quan tro ̣ng để phát triển sản xuất của các làng nghề.

* Điều kiện kinh tế: Kinh tế thu từ làng nghề ngày càng phát triển, đời sống

vật chất của các tầng lớp nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng nói chung, của

những người làm nghề, của đội ngũ cán bộ quản lý địa phương nói riêng, được

cải thiện. Tuy nhiên ô nhiễm môi trường làng nghề ngày cành nhiều, từ đó cũng

tác động việc nhân dân càng phải tích cực tham gia thực hiện pháp luật về bảo vệ

môi trường ở các làng nghề với mong muốn được hưởng môi trường sống trong

lành, không bị ô nhiễm.

pdf27 trang | Chia sẻ: lavie11 | Lượt xem: 440 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
có giá trị tham khảo cho các địa phương trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề; góp phần giảm thiểu và giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay. 7 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM 2.1. Khái niệm làng nghề, pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề và thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề 2.1.1. Khái niệm làng nghề Làng nghề là những làng có các ngành nghề không phải là nông nghiêp̣ nhưng lại chiếm trên 30% tổng số hô ̣lao đôṇg, hoặc có ít nhất 300 lao động, có giá trị sản xuất và thu nhập đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng. 2.1.2. Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước xây dựng, ban hành, hướng tới điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa Nhà nước, các cơ quan quản lý các cấp về bảo vệ môi trường làng nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh làng nghề và công dân nhằm đảm bảo cho các chủ thể pháp luật phát huy quyền và thực hiện nghĩa vụ về bảo vệ môi trường ở các làng nghề địa phương 2.1.3. Khái niệm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật về bảo vệ môi trường, nhằm phát huy tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển bền vững. 2.2. Chủ thể, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề 2.2.1. Chủ thể thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Chủ thể pháp luật là những cá nhân, tổ chức năng lực chủ thể để trở thành các bên tham gia quan hệ pháp luật, có các quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở những quy phạm của pháp luật. Theo luật bảo vệ môi trường 2014, các chủ thể tham gia thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề bao gồm: Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước Thứ hai, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ làng nghề: là một trong những chủ thể giữ vai trò rất quan trọng trong thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề. Thứ ba, cộng đồng dân cư sinh sống ở các làng nghề. 8 Đặc biệt, liên quan đến hoạt động thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề, trách nhiệm của tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường cũng được quy định một cách rõ ràng, cụ thể. Đây là tổ chức được thành lập và hoạt động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng trách nhiệm. 2.2.2. Nội dung thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng bao gồm các nội dung sau: Thứ nhất: Thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước trong môi trường làng nghề: đối với các cơ sở tham gia sản xuất ở các làng nghề, nghiêm cấm các hành vi thải các chất độc hại, chất phóng xạ, vi sinh vật chưa được kiểm định và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật vào nguồn nước. Ngoài ra còn được quy định ở các văn bản khác Thứ hai: Thực hiện pháp luật về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề: Việc thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại chưa được xử lý vào không khí hoặc gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường là tuyệt đối bị nghiêm cấm. Do đó, các nguồn phát thải khí vào môi trường phải được đánh giá và kiểm soát. Thứ ba: Thực hiện pháp luật về xử lý các chất thải trong môi trường làng nghề: bao gồm xử lý chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại, nước thải và các dạng thải khác: Chất thải phải được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và tiêu hủy. Chất thải thông thường có lẫn chất thải nguy hại vượt ngưỡng quy định mà không thể phân loại được thì phải quản lý theo quy định của pháp luật về chất thải nguy hại. Chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng phải được phân loại. Ngoài ra còn được quy định ở các văn bản khác Thứ tư: Thực hiện pháp luật về bảo vệ đất đai và tài nguyên đất trong môi trường làng nghề: Các quy hoạch, kế hoạch, dự án và các hoạt động có sử dụng đất phải xem xét tác động đến môi trường đất và có giải pháp bảo vệ môi trường đất, do đó các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao quyền sử dụng đất có trách nhiệm bảo vệ môi trường đất. Việc phát thải chất thải vào môi trường đất không được vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường đất. Khi các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất nghề gây ô nhiễm môi trường đất sẽ phải có trách nhiệm xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường đất. Được quy định tại luật Bảo vệ môi trường Thứ năm: Thực hiện pháp luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tich lịch sử trong môi trường làng nghề. Đối với các làng nghề có các di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên đã được công nhận, xếp hàng, các hoạt động sản xuất làng nghề phải xem xét tác động đến cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử và có giải pháp bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử này. 9 2.2.3. Các hình thức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Thứ nhất, tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề: Thứ hai, thi hành (chấp hành) pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Thứ ba, sử dụng pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Thứ tư, áp dụng pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề 2.3. Vai trò, điều kiện bảo đảm việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề 2.3.1. Vai trò thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Thứ nhất, góp phần đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn và ngăn ngừa, hạn chế các vi phạm pháp luật về môi trường nói chung, góp phần phổ biến giáo dục pháp luật, xây dựng thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; Thứ hai, đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường lành mạnh; Thứ ba, đảm bảo sự phát triển bền vững. 2.3.2. Điều kiện bảo đảm việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề Thứ nhất là, điều kiện về mặt pháp lý; Thứ hai là, điều kiện về mặt kinh tế; Thứ ba là, điều kiện về mặt văn hóa; Thứ tư là, điều kiện về trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý môi trường và cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề; Thứ năm là, điều kiện về ý thức pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề; Thứ sáu là, việc phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề. 2.4. Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm có thể vận dụng ở các làng nghề Việt Nam 2.4.1. Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới Thứ nhất, thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề của Nhật Bản; Thứ hai, thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề của Trung Quốc; Thứ ba, thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại Singapore. 2.4.2. Một số kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam Thứ nhất là, cần ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề theo kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc. 10 Thứ hai là, học tập kinh nghiệm của Nhật Bản, đề cao các sáng kiến của chính quyền địa phương ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề bởi chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường. Thứ ba là, học tập king nghiệm của Nhật Bản khuyến khích các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất làng nghề tham gia trực tiếp vào quá trình kiểm soát ô nhiễm môi trường. Thứ tư là, quản lý và xử lý chất thải toàn diện ở các làng nghề theo kinh nghiệm của Singapore. Thứ năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở địa phương và giáo dục nghiêm về bảo vệ môi trường do các hoạt động của làng nghề gây ra ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Chương 3 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ Ở CÁC TỈNH ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, sự phát triển về làng nghề và tình hình ô nhiễm về môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng 3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh Đồng Bằng sông Hồng tác động đến tình hình phát triển làng nghề và việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề * Điều kiêṇ tư ̣nhiên: Vùng đồng bằng sông Hồng là môṭ vùng đất có diêṇ tı́ch nhỏ hep̣ nhưng laị có mâṭ đô ̣dân số cao nhất cả nước, là môṭ điều kiêṇ thúc đẩy cho mô hı̀nh làng nghề phát triển bởi vı̀ dân số đông, sức ép viêc̣ làm gia tăng nên người dân ở đây phải tı̀m kiếm các nghề phu ̣bên caṇh các nghề chı́nh như nông nghiêp̣, phuc̣ vu ̣cho cuôc̣ sống của mı̀nh. Bên caṇh đó, vùng còn có rất nhiều những ưu thế taọ điều kiêṇ cho viêc̣ phát triển làng nghề như: hệ thống giao thông - vâṇ tải thuận tiện, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản tương đối dồi dào là nguồn nguyên liêụ quan troṇg để phát triển sản xuất của các làng nghề. * Điều kiêṇ kinh tế: Kinh tế thu từ làng nghề ngày càng phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp nhân dân vùng đồng bằng sông Hồng nói chung, của những người làm nghề, của đội ngũ cán bộ quản lý địa phương nói riêng, được cải thiện. Tuy nhiên ô nhiễm môi trường làng nghề ngày cành nhiều, từ đó cũng tác động việc nhân dân càng phải tích cực tham gia thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề với mong muốn được hưởng môi trường sống trong lành, không bị ô nhiễm. 11 * Điều kiêṇ xã hôị: Trı̀nh đô ̣dân trı́ của vùng cao nhất so với các vùng trong cả nước, chı́nh là điểm maṇh trong sư ̣phát triển làng nghề ở vùng đồng bằng sông Hồng và cũng là điểm mạnh trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề bởi người dân dễ dàng tiếp thu, đón nhận các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề; có thể dễ dàng tiếp cận với những công nghệ tiên tiến để phục vụ sản xuất làng nghề và bảo vệ môi trường. 3.1.2. Thưc̣ traṇg phát triển làng nghề ở các tı̉nh đồng bằng sông Hồng 3.1.3. Hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng Thứ nhất là, ô nhiễm nguồn nước trong môi trường làng nghề. Thứ hai là, ô nhiễm không khí và tiếng ồn trong môi trường làng nghề. Thứ ba là, ô nhiễm chất thải rắn trong môi trường làng nghề. Thứ tư là, ô nhiễm đất đai và tài nguyên đất trong môi trường làng nghề. Thứ năm là, cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử trong môi trường làng nghề. 3.2. Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và nguyên nhân 3.2.1. Những kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng 3.2.1.1. Thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước trong môi trường làng nghề * Về thi hành pháp luật: Thứ nhất là, vùng đồng bằng sông Hồng đã hoàn thành lập đề cương đề án Chính phủ “Quy hoạch tài nguyên nước các lưu vực sông liên tỉnh”. cơ bản hoàn thành dự án “Quy hoạch Quản lý sử dụng tài nguyên nước và bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2015 và định hướng đến 2020”. Tính đến nay đã có 10/11 tỉnh đồng bằng sông Hồng ban hành quy hoạch tài nguyên nước cấp tỉnh. Thứ hai là, công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước đã được đẩy mạnh và tích cực triển khai, thực hiện ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, trong đó có khu vực làng nghề góp phần xây dựng hệ thống thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước. Thứ ba là, công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức cộng đồng về tài nguyên nước được thực hiện thường xuyên với các phương tiêṇ thông tin đaị chúng, thông qua nhiều hình thức khác nhau để giải đáp pháp luâṭ, trao đổi về những vấn đề quan troṇg, cấp bách cần giải quyết trong quản lý tài 12 nguyên nước, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước vùng đồng bằng sông Hồng. Thứ tư là, trong công tác chỉ đạo, xây dựng và triển khai thực hiện đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông; chỉ đạo, tổ chức các hoạt động phòng ngừa và kiểm soát các nguồn thải vào lưu vực song: Tất cả các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng trên 02 lưu vực sông đã phê duyệt và triển khai Kế hoạch thực hiện Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông tại mỗi tỉnh, thành phố, nhiều nơi đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án trên địa bàn. Đến nay, có 04 dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015 đã được triển khai. * Về áp dụng pháp luật: Thứ nhất là, tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên nước: ở cả Trung ương, địa phương vùng đồng bằng sông Hồng và ở cấp độ liên vùng (Ủy ban bảo vệ môi trường các lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy đã được thành lập và tiếp tục được kiện toàn). Thứ hai là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước đã được xây dựng, bổ sung và hoàn thiện: ở cấp Trung ương, các tỉnh đồng bằng sông Hồng và ở cấp độ liên vùng. Thứ ba là, trong công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên nước: Trung ương và các địa phương tỉnh đồng bằng sông Hồng đã tích cực triển khai thanh tra, kiểm tra hàng loạt các tổ chức, cá nhân, cơ sở sản xuất làng nghề trên địa bàn tỉnh. Qua công tác thanh tra đã phát hiện nhiều hành vi vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước. 3.2.1.2. Thực hiện pháp luật về bảo vệ đất đai và tài nguyên đất trong môi trường làng nghề * Về thi hành pháp luật: Thứ nhất là, trong công tác chỉ đạo và kiểm soát ô nhiễm môi trường đất ở các làng nghề: được thực hiện tương đối tốt. Ủy ban nhân dân và sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã quyết liệt chỉ đạo để đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận, tập trung xây dựng hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai ở các làng nghề; đã quan tâm và kịp thời hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình chuyển tiếp thi hành Luật Đất đai, không để ách tắc gây phiền hà cho các cơ sở sản xuất và người dân ở các làng nghề. Thứ hai là, trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ đất đai và tài nguyên đất: cũng được chú trọng, thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, tạo điều kiện để đưa Luật Đất đai vào cuộc sống và nâng cao ý 13 thức của người dân về bảo vệ môi trường đất và tài nguyên đất. 11/11 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng đã triển khai công tác phổ biến Luật Đất đai và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật rộng rãi đến mọi đối tượng trong đó có các cơ sở và cá nhân tham gia sản xuất nghề. * Về áp dụng pháp luật: Thứ nhất là, trong công tác xây dựng thể chế và các văn bản quy phạm pháp luật: hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã liên tục được bổ sung, hoàn thiện. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật cũng đã nhanh chóng được Chính phủ, các Bộ, ngành và các tỉnh đồng bằng sông Hồng ban hành để cụ thể hóa, tạo ra hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ về bảo vệ môi trường đất. Thứ hai là, trong công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh tra đột xuất việc quản lý, sử dụng đất ở các làng nghề trên địa bàn các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã được chú trọng, tăng cường nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật đất đai của các cơ sở được nhà nước giao đất, cho thuê đất. Giữa Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Hồng cũng đã có sự phối hợp tích cực trong triển khai thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh tra chuyên đề diện rộng việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường đất và tài nguyên đất tại các làng nghề. 3.2.1.3. Thực hiện pháp luật về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề * Về thi hành pháp luật: Thứ nhất là, từng bước khắc phụ ô nhiễm không khí từ các hoạt động sản xuất làng nghề. Thứ hai là, triển khai các giải pháp xanh nhằm giảm thiểu khí thải hiệu ứng nhà kính, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Thứ ba là, tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hoạt động quan trắc môi trường không khí. * Về sử dụng pháp luật: Người dân tại các khu vực nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng khi được huy động đều tham gia nhiệt tình đối với các phong trào, tham gia xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy ước về bảo vệ môi trường làng nghề. Việc công bố, phổ biến thông tin về chất lượng môi trường nói chung, môi trường không khí nói riêng cho cộng đồng cũng đã được triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau. 14 * Về áp dụng pháp luật: Thứ nhất là, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo vệ môi trường không khí. Thứ hai là, hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường không khí đã đi vào hoạt động ổn định và không ngừng được nâng cao năng lực. Thứ ba là, rà soát và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường không khí. Thứ tư là, trong công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí. 3.2.1.4. Thực hiện pháp luật về quản lý các chất thải trong môi trường làng nghề * Về thi hành pháp luật: Thứ nhất là, các cơ quan quản lý các cấp trên địa bàn các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã tích cực trong công tác tổ chức, chỉ đạo diều hành đối với quản lý các chất thải trong môi trường làng nghề. Thứ hai là, tích cực trong công tác kiểm soát và xử lý chất thải trong môi trường làng nghề và đã thu được những kết quả khả quan. Tiêu biểu là Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam. Thứ ba là, công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về quản lý và xử lý chất thải trong môi trường làng nghề được tiến hành khá thường xuyên: tiêu biểu là Bắc Ninh, Hà Nam. Thứ tư là, sự tham gia của doanh nghiệp nhà nước đã mang lại những đóng góp không nhỏ trong công tác quản lý và xử lý chất thải. * Về sử dụng pháp luật: Trong những năm gần đây, người dân đã tích cực tham gia vào các hoạt động của quản lý môi trường, được tham gia trực tiếp vào các bước trong dự án, được chủ động đưa ra các đề xuất, được giám sát quá trình thực hiện và là người trực tiếp hưởng lời từ thành quả của dự án. Ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, một số mô hình huy động sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường làng nghề cũng đã được triển khai như các mô hình thu gom rác thải sinh hoạt dưới các hình thức tự quản do dân tự tổ chức, do xã, thôn tổ chức hoặc thành lập HTX dịch vụ vệ sinh môi trường. * Về áp dụng pháp luật: Thứ nhất là, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải. 15 Thứ hai là, hệ thống tổ chức quản lý chất thải đang được kiện toàn và phân công trách nhiệm tương đối cụ thể từ cấp Trung ương đến các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Thứ ba là, tích cực tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực xử lý chất thải. 3.2.1.5. Thực hiện pháp luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tich lịch sử trong môi trường làng nghề * Về thi hành pháp luật: Thứ nhất là, tích cực trong công tác chỉ đạo và thực hiện việc khắc phục và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường để bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử ở các làng nghề. Thứ hai là, tích cực trong công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tich lịch sử trong môi trường làng nghề: ở cả cấp Trung ương và các tỉnh đồng bằng sông Hồng. * Về áp dụng pháp luật: Thứ nhất là, ban hành và hoàn thiện dần các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử. Thứ hai là, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử tại các làng nghề được chú trọng tiến hành. 3.2.2. Nguyên nhân của những kết quả đạt được 3.2.2.1. Nguyên nhân khách quan Một là, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm chỉ đạo thực hiện, với những chủ trương, đường lối, chính sách về những vấn đề liên quan đến quản lý, kiểm soát việc thực hiện bảo vệ môi trường làng nghề, Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường làng nghề và các cơ quan có liên quan đã quan tâm hơn đến công tác thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở các làng nghề, thông qua việc kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng số lượng cán bộ thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề. Ba là, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ngày càng hoàn thiện, tạo căn cứ pháp lý cho các cơ quan, đơn vị thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề. Bốn là, đời sống nhân dân được cải thiện, nhu cầu được hưởng một môi trường sống trong lành, an toàn được nâng lên một mức cao hơn. Trong điều kiện chung như vậy, việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường ở các làng nghề cũng được các chủ thể quan tâm thực hiện. Năm là, công cuộc hội nhập với khu vực và Quốc tế góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề. 16 3.2.2.2. Nguyên nhân chủ quan Một là, các quy định của pháp luật được cụ thể hóa các quy định của pháp luật phù hợp với đặc điểm của từng địa phương. Hai là, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã bước đầu được các địa phương quan tâm chú trọng. Ba là, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng cũng được chính quyền các cấp quan tâm chú trọng. Bốn là, sự tham gia tích cực, tâm huyết của đội ngũ cán bộ quản lý môi trường cấp xã, phường. Năm là, sự đồng thuận, ủng hộ và tham gia chủ động, tích cực của một bộ phận chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh làng nghề và người dân trên địa bàn xã, phường, thị trấn vùng đồng bằng sông Hồng. 3.3. Những hạn chế trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng và nguyên nhân 3.3.1. Những haṇ chế trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng thời gian qua 3.3.1.1. Thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước trong môi trường làng nghề * Về tuân thủ pháp luật Hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề không thực hiện việc quan trắc, giám sát nguồn nước trong quá trình khai thác, sử dụng theo quy định của nội dung giấy phép và theo quy định tại Điều 16 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Một số trường hợp cá biệt sẵn sàng dựa vào số đông để chống đối, thậm chí hành hung các đoàn kiểm tra, thanh tra, báo chí đến làm việc; nhiều hộ sản xuất không tiếp nhận hoặc tiếp nhận nhưng không vận hành các hạng mục công trình xử lý ô nhiễm môi trường khi được nhà nước đầu tư, do không chịu chi trả các khoản chi phí vận hành, bảo dưỡng. * Về thi hành pháp luật: Thứ nhất là, công tác chỉ đạo, quản lý tài nguyên nước, bảo vệ môi trường lưu vực sông còn nhiều bất cập. Thứ hai là, công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước chưa tương xứng với nhiệm vụ và yêu cầu. Thứ ba là, việc thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước của các cá nhân, cơ sở sản xuất làng nghề vẫn còn hời hợt, thiếu tự giác. 17 Thứ tư là, trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về bảo vệ tài nguyên nước còn chưa được chú trọng. * Về áp dụng pháp luật: Thứ nhất là, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên nước còn chưa hoàn thiện. Thứ hai là, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên nước còn chưa hoàn thiện. Thứ ba là, quy định về mức thu lệ phí nước thải chưa hợp lý. Thứ tư là, công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực tài nguyên nước gần như bị ‘bỏ trống’. 3.3.1.2. Thực hiện pháp luật về bảo vệ đất đai và tài nguyên đất trong môi trường làng nghề * Về thi hành pháp luật: Công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất ở các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng diễn ra còn chậm, chưa thực sự đồng bộ giữa các cấp, chưa gắn với quy hoạch chi tiết của các ngành nghề. Ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, việc theo dõi, cập nhật biến động về đất đai chưa được thực hiện thường xuyên. Công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ đất đai và môi trường cũng chưa có sự lồng ghép hợp lý. * Về áp dụng pháp luật: Thứ nhất là, vấn đề môi trường chưa được lồng ghép trong quá trình xây dựng luật đất đai. Thứ hai là, các văn bản về bảo vệ môi trường đất còn chưa đầy đủ và chưa phải là công cụ hữu hiệu để bảo vệ đất với tư cách là một thành phần quan trọng, không thể thiếu của môi trường. Thứ ba là, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất ở các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng chưa sát với thực tế và yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai. 3.3.1.3. Thực hiện pháp luật về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề * Về tuân thủ pháp luật: Tại các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng, vẫn còn tồn tại những ngành sản xuất gây ô nhiễm không khí nặng không tuân thủ các quy đị

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftt_thuc_hien_phap_luat_ve_bao_ve_moi_truong_lang_nghe_457_1916287.pdf
Tài liệu liên quan