Tóm tắt Luận án Tu dưỡng tính Đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông bắc bộ giai đoạn hiện nay

Chương 1

TU DƯỠNG TÍNH ĐẢNG CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ

Ở VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. CÁC XÃ VÀ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ Ở VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ HIỆN NAY

1.1.1. Vị trí, vai trò và đặc điểm các xã ở vùng Đông Bắc bộ hiện nay

1.1.1.1. Khái quát về vùng Đông Bắc bộ

Vùng ĐBB, gồm 13 tỉnh, có 131 huyện, thị xã và thành phố trực thuộc

tỉnh, 2032 xã. Hằng năm, Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của toàn

vùng giai đoạn 2005-2008 là 11,7%; năm 2009 đạt 9,38%, gấp 1,8 lần mức

tăng GDP cả nước; năm 2010 đạt 11,6%. Một số tỉnh đạt mức tăng trưởng

cao như: Tuyên Quang 14,3 %, Phú Thọ 13,5%. Những năm gần đây, do

ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu và suy giảm kinh tế ở nước ta,

tốc độc tăng trưởng kinh tế toàn vùng giảm đáng kể.

Nhân dân ở các xã của vùng ĐBB có truyền thống yêu nước, anh

dũng, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất xây dựng cuộc sống.Trong

công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, truyền thống của nhân dân vùng

ĐBB lại được phát huy cao độ về mọi mặt, góp phần quan trọng vào thắng

lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử gần ba mươi năm đổi mới

pdf27 trang | Chia sẻ: lavie11 | Lượt xem: 435 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Tu dưỡng tính Đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông bắc bộ giai đoạn hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hoạt động khác ở các xã. Toàn vùng ĐBB có 2032 xã, phân bố không đồng đều tương đối giữa các tỉnh trong vùng. Toàn vùng có các xã ven biển, các xã biên giới, các xã ven biển của tỉnh Quảng Ninh, các xã vùng núi, không là xã biên giới, các xã ven thành phố, thị xã, các xã ở các cao nguyên, trung du và ở các đồng bằng nhỏ. Thứ hai, các xã ở vùng ĐBB có diện tích lớn, dân số ít, kinh tế phát triển chậm, đời sống nhân dân thấp, còn nhiều hộ đói, nghèo diện tích các xã ở vùng ĐBB nhìn chung vào loại lớn, nhiều xã có diện tích gấp 2 - 3 lần diện tích một xã ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Thứ ba, các xã ở vùng ĐBB gồm các làng, thôn, bản, có nhiều tộc người sinh sống lâu đời với quan hệ dòng tộc, họ hàng, thôn, làng, bản sâu đậm, bền chặt; ở một số nơi có các bản riêng của một hoặc hai tộc người, các già làng chi phối mạnh mẽ mọi hoạt động của cư dân trên địa bàn. Thứ tư, các xã ở vùng ĐBB có chiều dày lịch sử chống xâm lược; nhiều xã là nơi ngăn chặn bọn xâm lược phương Bắc khi chúng bước chân vào đất nước ta; nhiều xã là căn cứ địa của cách mạng trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. 1.1.2. Cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ - khái niệm, vai trò, đặc điểm 1.1.2.1. Khái niệm cán bộ chủ chốt xã CBCC xã ở vùng ĐBB là cán bộ đứng đầu (bí thư hoặc chủ tịch) một trong các tổ chức của HTCT và trưởng công an, trưởng chỉ huy quân sự xã (xã đội trưởng) có vai trò quan trọng đối mọi hoạt động của các tổ chức trong HTCT và lĩnh vực an ninh, quốc phòng trên địa bàn xã. 8 Như vậy, CBCC xã ở vùng ĐBB gồm các chức danh: bí thư đảng uỷ xã, chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND, bí thư ĐTNCS Hồ Chí Minh, chủ tịch ủy ban MTTQ, chủ tịch HND, chủ tịch HLHPN và chủ tịch HCCB xã, trưởng công an, trưởng chỉ huy quân sự xã. 1.1.2.2. Đặc điểm cán bộ chủ chốt các xã vùng Đông Bắc bộ hiện nay Một là, CBCC ở các xã vùng ĐBB có tuổi đời còn khá trẻ, đều là đảng viên, cán bộ là người dân tộc chiếm tỷ lệ khá lớn. Hai là, trình độ học vấn, lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ CBCC xã ở vùng ĐBB còn thấp; phần lớn cán bộ có trình độ sơ cấp và chưa qua đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị và quản lý nhà nước. Ba là, đại đa số CBCC xã ở vùng ĐBB là người địa phương, trưởng thành qua các hoạt động thực tiễn tại địa phương; cán bộ trưởng thành từ quân đội và các ngành khác trở về làm việc tại xã chiếm khoảng 7 đến 9% trên tổng số cán bộ xã trong vùng. Bốn là, CBCC xã ở vùng ĐBB đều gắn bó với lao động sản xuất và gia đình, quan hệ trực tiếp với nhân dân các dân tộc ở địa phương; được hình thành qua bầu cử hoặc hiệp thương. Năm là, CBCC xã ở vùng ĐBB được kế thừa những đặc tính quý báu của các dân tộc vùng này, trong thực hiện nhiệm vụ và tu dưỡng, rèn luyện bản thân, song họ cũng chịu tác động của những điểm hạn chế của các dân tộc trong sinh hoạt và hoạt động thực hiện chức trách, nhiệm vụ. 1.1.2.3. Vai trò cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ trong giai đoạn hiện nay Thứ nhất, CBCC các xã ở vùng ĐBB chịu trách nhiệm trước hết và cao nhất trước nhân dân trên địa bàn xã, đảng ủy, đảng bộ xã về toàn bộ tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và trước cấp ủy, chính quyền cấp trên theo chức trách, nhiệm vụ được giao Thứ hai, CBCC các xã ở ĐBB là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên về xây dựng Đảng, HTCT, xây dựng, phát huy sức mạnh khối đoàn kết các dân tộc, tôn giáo trong công cuộc đổi mới Thứ ba, CBCC các xã ở vùng ĐBB là nguồn quan trọng và chủ yếu để xây dựng đội ngũ CBCC huyện, tỉnh có chất lượng, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. 9 1.2. TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ TU DƯỠNG TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ - KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, VAI TRÒ VÀ ĐẶC TRƯNG 1.2.1. Tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ - khái niệm, nội dung, vai trò 1.2.1.1. Khái niệm tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ TĐCS của CBCC các xã ở vùng ĐBB là phẩm chất đặc biệt quan trọng tạo nên giá trị nhân cách của CBCC, thể hiện tập trung bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm: bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng; tiên phong, gương mẫu về mọi mặt; gắn bó mật thiết với nhân dân; tính chiến đấu cao và ý thức kỷ luật tự giác, nghiêm minh. Đó là cơ sở để CBCC các xã vùng ĐBB không ngừng phấn đấu vươn lên, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. 1.2.1.2. Nội dung tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã vùng Đông Bắc bộ Thứ nhất, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, sẵn sàng hy sinh phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH. Thứ hai, tiêu biểu về trí tuệ; mẫu mực về đạo đức, lối sống. CBCC các xã vùng ĐBB có đạo đức cách mạng, tức là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân Thứ ba, tiên phong, gương mẫu về lý luận, hành động và phong cách làm việc, nói đi đôi với làm, gắn lý luận với thực tiễn. Thứ tư, gắn bó mật thiết với nhân dân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Thứ năm, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, việc làm sai trái của các thế lực thù địch và những tiêu cực xã hội. Thứ sáu, ý thức kỷ luật tự giác, nghiêm minh, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 1.2.1.3. Vai trò của tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã vùng Đông Bắc bộ Thứ nhất, là nhân tố căn bản tạo nên chất lượng cán bộ, bảo đảm cho cán bộ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Thứ hai, là nhân tố rất quan trọng tạo nên năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ xã, cấp ủy và tổ chức đảng địa phương. Thứ ba, TĐCS của CBCC xã vùng ĐBB có vai trò to lớn đối với việc hạn chế và loại trừ các tiêu cực trong chi bộ, đảng bộ xã. 10 1.2.2. Tu dưỡng tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ - khái niệm, nội dung và đặc trưng 1.2.2.1. Khái niệm tu dưỡng tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ Là toàn bộ hoạt động tự giáo dục, trau dồi, rèn luyện, tự cải tạo, chỉnh đốn của từng cán bộ theo những nội dung TĐCS của CBCC các xã vùng ĐBB, nhằm tăng cường TĐCS của từng cán bộ, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao 1.2.2.2. Nội dung tu dưỡng tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt xã ở vùng Đông Bắc bộ * Tu dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị. * Rèn luyện, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu trong mọi hoạt động và trong cuộc sống thường ngày ở mọi lúc, mọi nơi. * Rèn luyện đạo đức cách mạng, tích cực học tập, nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực công tác, * Tu dưỡng, nâng cao năng lực, hiệu quả đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, phản động và những tiêu cực trong tổ chức đảng, trong xã hội trên địa bàn. * Rèn luyện phong cách làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn, gắn bó mật thiết với nhân dân, nói đi đôi với làm, làm đến nơi, đến chốn. * Rèn luyện, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, 1.2.2.3. Đặc trưng của việc tu dưỡng tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ Thứ nhất, lấy việc tự tu dưỡng TĐCS của từng CBCC các xã là chính, gắn với sự giúp đỡ của cấp ủy, tổ chức đảng. Thứ hai, lấy việc thực hiện thắng lợi công tác xây dựng Đảng và nâng cao vai trò của cán bộ, đảng viên làm mục tiêu tu dưỡng TĐCS của CBCC các xã vùng ĐBB. Thứ ba, tu dưỡng TĐCS của CBCC xã là công việc suốt đời, liên tục và chủ yếu được tiến hành trong thực tiễn, lý thuyết gắn với thực hành; lấy kết quả thực hành làm thước đo việc tu dưỡng TĐCS của từng cán bộ. Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" là chính trong tu dưỡng TĐCS của CBCC các xã vùng ĐBB công tác xây dựng Đảng, xây dựng HTCT cơ sở, thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 11 Chương 2 TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ TU DƯỠNG TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ Ở VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 2.1. THỰC TRẠNG TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ Ở VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ CBCC xã ở vùng ĐBB gồm 20.130 cán bộ. Trong đó, 9.211 cán bộ có tuổi đời từ 19 đến 35 tuổi, chiếm 37,42%; 10.910 cán bộ có tuổi đời từ 36 đến 55 tuổi, chiếm 44,33%; số cán bộ còn lại có tuổi đời từ 56 đến 60 tuổi. CBCC xã là người dân tộc thiểu số ở nhiều tỉnh chiếm tỷ lệ trên 60%, CBCC xã là nữ chiếm khoảng 3%. Trình độ mọi mặt nhìn chung còn thấp và có sự chênh lệch khá lớn các xã ở vùng núi cao so với vùng trung du, đồng bằng nhỏ. 2.1.1. Những ưu điểm 2.1.1.1. Về sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng, kể cả tính mạng cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đa số CBCC các xã vùng ĐBB thể hiện rõ sự vững vàng, tích cực chủ động tìm giải pháp thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng. Những biểu hiện kém tin tưởng vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường XHCN dần được khắc phục. 2.1.1.2. Sự tiên phong, gương mẫu về hành động, lý luận, phong cách làm việc, nói đi đôi với làm, gắn lý luận với thực tiễn được thể hiện khá toàn diện về tư tưởng, chính trị và đạo đức, lối sống, phong cách làm việc. Ở nhiều nơi CBCC xã hăng hái đi đầu tìm tòi cách làm mới, mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất, làm giàu chính đáng. Kết quả khảo sát cho thấy có 23,68% CBCC xã thực hiện tốt và 43,16% thực hiện khá chủ trương xóa đói giảm nghèo; 27,47% thực hiện tốt, 37,47% thực hiện khá chủ trương làm giàu chính đáng, là những tấm gương cho nhân dân noi theo. 2.1.1.3. Về đấu tranh kiên quyết với những quan điểm, việc làm sai trái của các thế lực thù địch và những tiêu cực cơ bản đã được CBCC xã đấu tranh kiên quyết và đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý nghiêm minh. Từ năm 2001 đến năm 2013 CBCC các xã vùng ĐBB đã tham gia chống tiêu cực trong nội bộ và chống lại các tiêu cực ngoài xã hội với tổng số 162 12 vụ. CBCC xã đã đấu tranh kiên quyết, cấp ủy có thẩm quyền đã xử lý có lý có tình, nhất là đối với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Việc tự phê bình và phê bình của CBCC xã đã có chuyển biến tích cực nhất là trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng 2.1.1.4. Về sự mẫu mực về đạo đức, lối sống, tiêu biểu về trí tuệ. Phần lớn CBCC thực hiện tốt, sống giản dị lành mạnh, không tham gia vào các tệ nạn xã hội, có thái độ kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn, hủ tục lạc hậu. từ năm 2006 đến năm 2012 cán bộ đã tuyên truyền, phổ biến được 582 lần, Qua khảo sát thực tiễn cho thấy đã giáo dục, cảm hóa được 108 đối tượng. Phần lớn CBC xã toàn vùng có trình độ THPT (69%); 5% có trình độ độ cao đẳng, đại học và trên đại học; nhiều cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp và trình độ A, B tin học. Những cán bộ này là những tấm gương về học tập nâng cao trình độ trí tuệ 2.1.1.5. Về sự gắn bó mật thiết với nhân dân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Luôn gắn bó với đoàn viên, hội viên và nhân dân,coi trọng phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến của đoàn viên, hội viên, tổ chức các phong trào hành động cách mạng trong từng đoàn thể và vận động nhân dân tham gia. Qua khảo sát cho thấy 100% CBCC là cán bộ đảng, chính quyền xã tham gia sinh hoạt trong các tổ chức đoàn thể nhân dân, có vai trò quan trọng đối với hoạt động của các tổ chức này. 2.1.1.6. Về chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kỷ luật nghiêm minh. Nhiều CBCC xã tự giác chấp hành các nguyên tắc, tổ chức, kỷ luật của Đảng trong phát ngôn và thực hiện những điều đảng viên không được làm. Gương mẫu chấp hành quy định của thôn, xóm, làng, bản và kỷ luật của các đoàn thể. CBCC xã đã qua rèn luyện trong thực tiễn, nhất là qua công cuộc đổi mới, tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, trưởng thành về nhiều mặt; đã nêu cao tinh thần vượt khó, có ý thức tổ chức kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ... 2.1.2. Những khuyết điểm, yếu kém 2.1.2.1. Về sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đường lối đổi mới của Đảng, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng, kể cả tính mạng cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Qua khảo sát 154 CBCC ở 22 xã thuộc các tỉnh vùng ĐBB, có 91 CBCC xã cho rằng họ có tâm tư, suy 13 nghĩ về thắng lợi của công cuộc xây dựng CNXH, chỉnh đốn Đảng. Một bộ phận không nhỏ có biểu hiện vun vén lợi ích cá nhân, gia đình, chưa gương mẫu về hy sinh lợi ích cá nhân, gia đình, chưa coi trọng lợi ích tập thể và lợi ích của nhân dân địa phương 2.1.2.2. Sự tiên phong, gương mẫu về hành động, lý luận, phong cách làm việc, nói đi đôi với làm, gắn lý luận với thực tiễn. Khảo sát thấy rằng chỉ có gần 20% cán bộ thể hiện rõ vai trò tiên phong gương mẫu trong mọi hoạt động ở địa phương; 30,25% CBCC xã thể hiện sự tiền phong gương mẫu đạt mức trung bình và 24,30% ở mức yếu kém; vẫn còn 33,04% chưa gương mẫu, đi đầu trong các phong trào thi đua ở nông thôn. Nhiều CBCC xã còn có biểu hiện quan liêu trong xử lý công việc, ít sâu sát thực tiễn, nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân. 2.1.2.3. Về đấu tranh kiên quyết với những quan điểm, việc làm sai trái của các thế lực thù địch và những tiêu cực. có tới 55,7% CBCC xã cho rằng việc tự phê bình và phê bình chưa được hiệu quả, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay ở nhiều nơi chưa thực sự nghiêm túc, chất lượng thấp. 2.1.2.4. Về sự mẫu mực về đạo đức, lối sống, tiêu biểu về trí tuệ. Một số CBCC xã vùng ĐBB còn có lối sống ích kỷ, có biểu hiện bê tha, sự suy thoái về đạo đức, lối sống, thiếu gương mẫu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, yếu kém về trí tuệ, năng lực lãnh đạo.Năm 2013 ở 550 xã trong toàn vùng có CBCC vi phạm, 1.805 CBCC xã chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn chiếm 20,3% tổng số CBCC xã toàn vùng; 1.021 CBCC chưa đạt chuẩn về trình độ lý luận chính trị. Một số CBCC xã có trình độ thấp nhưng không tự giác học tập để đạt chuẩn theo quy định. 2.1.2.5. Về sự gắn bó mật thiết với nhân dân, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân. Còn biểu hiện xa dân, thờ ơ trước các vấn đề bức xúc của nhân dân, chưa tích cực tiếp thu ý kiến của nhân dân, xem xét, giải quyết công việc còn theo ý kiến chủ quan nên chưa góp phần tạo được sự chuyển biến tích cực về mọi mặt ở địa phương. 2.1.2.6. Về chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kỷ luật nghiêm minh. Nhiều CBCC xã trong vùng còn vi phạm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; vi phạm các chế độ quy định về sinh hoạt Đảng, còn có biểu hiện mất dân chủ, gia trưởng độc đoán trong quá 14 trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ được giao. Vẫn còn 9,60% CBCC xã vi phạm quy định về chế độ sinh hoạt Đảng, 1,39% vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, 0,69% CBCC xã không chấp hành sự phân công nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức có thẩm quyền. 2.2. TU DƯỠNG TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ Ở VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM 2.2.1. Thực trạng tu dưỡng tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã ở vùng Đông Bắc bộ 2.2.1.1. Những ưu điểm * Về tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị. Phần lớn CBCC xã đã coi trọng việc tự học tập, nghiên cứu nâng cao bản lĩnh chính trị. CBCC xã đã coi việc tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị của mình thông qua hoạt động thực tiễn, xử lý công việc, xử lý các tình huống nảy sinh ở cơ sở. * Về rèn luyện, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong mọi hoạt động và trong cuộc sống thường ngày ở mọi lúc, mọi nơi. Đại bộ phận CBCC xã nêu cao tinh thần vượt khó, tiên phong gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới. Nhiều CBCC xã biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân; đi đầu trong tìm các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và vận động nhân dân làm theo. * Về rèn luyện đạo đức cách mạng, tích cực học tập, nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực công tác. Cán bộ tự giác học tập, rèn luyện theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thể hiện trong những hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành công việc của cơ quan, đơn vị một cách khoa học, thiết thực; phẩm chất đạo đức cách mạng của CBCC xã và đội ngũ cán bộ, công chức trong đơn vị từng bước được nâng lên, tạo chuyển biến trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức và của bản thân CBCC xã. * Về tu dưỡng, nâng cao năng lực, hiệu quả đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, phản động và những tiêu cực trong tổ chức đảng, trong xã hội trên địa bàn. Nhiều CBCC xã ở vùng ĐBB đã tự rèn luyện và nâng cao năng lực, hiệu quả đấu tranh với những tiêu cực trong tổ chức đảng, trong xã hội trên địa bàn xã. Phương pháp đấu tranh với những tiêu cực trong các tổ chức đảng, đối với cán bộ, đảng viên đã dần phù hợp và thiết thực hơn. 15 Đã có khoảng trên 50% CBCC xã có chuyển biến rõ nét về hình thức, phương pháp và chất lượng phê bình những sai lầm khuyết điểm, những tiêu cực của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. * Về rèn luyện phong cách làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn, gắn bó mật thiết với nhân dân, nói đi đôi với làm, làm đến nơi, đến chốn. CBCC các xã ở vùng ĐBB đã bước đầu vượt qua khó khăn thách thức lớn về tác động của phong cách làm việc mang nặng tính tự do, tùy tiện của người sản xuất nhỏ tự túc, tự cấp, trọng tình hơn trọng lý...cơ bản đã xây dựng được phong cách làm việc đúng đắn, khoa học, phù hợp với điều kiện hiện nay và đặc điểm địa phương, công việc được hình thành, có chuyển biến tích cực. * Về rèn luyện nâng cao ý thức tổ chức, kỷ luật. Khá nhiều cán bộ đã tích cực tìm hiểu, nghiên cứu hướng dẫn của Đảng về thực hiện Điều lệ Đảng để chủ động thực hiện đúng. Việc xây dựng kế hoạch công tác cá nhân một cách cụ thể, chính xác trong đó ưu tiên việc tham gia sinh hoạt chi bộ, gương mẫu chấp hành quy chế, quy định của chi bộ, của đảng ủy xã được CBCC xã coi trọng. 2.2.1.2. Những khuyết điểm, hạn chế * Về tu dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị. Đôi khi chưa được coi trọng, chưa được làm thường xuyên, một số cấp uỷ còn lúng túng, chưa xác định nội dung, phương thức phù hợp đặc điểm của địa phương. * Về rèn luyện, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong mọi hoạt động và trong cuộc sống thường ngày ở mọi lúc, mọi nơi. Công việc này chưa được nhiều CBCC xã coi trọng và chưa tiến hành thường xuyên; chưa tích cực, chủ động đi tiên phong tìm giải pháp đổi mới phong cách lề lối làm việc, còn thụ động, trông chờ ỷ lại vào cấp trên. Ở một số cán bộ tính tiên phong gương mẫu trong mọi công việc lại có biểu hiện suy giảm. * Về rèn luyện đạo đức cách mạng, tích cực học tập, nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực công tác. Một số CBCC xã trong HTCT ở xã thiếu ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, chưa thường xuyên gương mẫu trong công tác, vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống, đặt lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ lên trên lợi ích tập thể, dẫn đến cục bộ, bè phái, gây mất đoàn kết. * Về tu dưỡng, nâng cao năng lực, hiệu quả đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, phản động và những tiêu cực trong tổ chức đảng, trong xã hội trên địa bàn. Nhiều CBCC xã phụ trách các lĩnh vực, đơn vị chưa tích cực tham gia đấu tranh, chưa trực tiếp tham gia các hoạt động này nên trình độ, năng lực và kinh nghiệm rất hạn chế và không được nâng lên. 16 * Về rèn luyện phong cách làm việc khoa học, sâu sát thực tiễn, gắn bó mật thiết với nhân dân, nói đi đôi với làm, làm đến nơi, đến chốn. Những hoạt động này của nhiều cán bộ còn chưa thành công việc thường xuyên. Những biểu hiện của phong cách làm việc tùy tiện, thủ công, chuộng hình thức, bệnh thành tích, lý thuyết suông, xa rời thực tế, xa dân, nói nhiều làm ít, và làm không đến nơi đến chốn vẫn còn tồn tại ở không ít CBCC xã. Khi được phê bình, góp ý về phong cách làm việc kiểu này, một số cán bộ lại tỏ thái độ không hài lòng và chưa tích cực tiếp thu, sửa chữa. * Về rèn luyện nâng cao ý thức tổ chức, kỷ luật. Việc rèn luyện nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật chưa trở thành công việc thường ngày của khá nhiều CBCC xã vùng ĐBB. Khá nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa coi trọng việc giáo dục, rèn luyện CBCC xã về ý thức tổ chức kỷ luật, nhất là việc chấp hành các quy chế, quy định của cấp ủy, tổ chức đảng và của các cơ quan xã. 2.2.2. Nguyên nhân, kinh nghiệm 2.2.2.1. Nguyên nhân của ưu điểm Luận án đã xác định và phân tích những nguyên nhân của ưu điểm và tập trung hơn vào phân tích những nguyên nhân của khuyết điểm, hạn chế: 2.2.2.2. Nguyên nhân của khuyết điểm, hạn chế * Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, nhận thức về TĐCS và sự cần thiết phải tu dưỡng, nâng cao TĐCS của nhiều CBCC xã vùng ĐBB trong điều kiện hiện nay còn chưa đầy đủ, sâu sắc; còn lúng túng, hạn chế trong tu dưỡng TĐCS đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong điều kiện hiện nay. Thứ hai, chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, tư tưởng cầu an, dĩ hòa vi quý, bằng lòng với trình độ, năng lực và cuộc sống hiện tại vẫn còn tồn tại ở nhiều CBCC xã. * Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, tư tưởng phong kiến, tâm lý tiểu nông của người sản xuất nhỏ, quan hệ huyết thống, thôn, bản còn tác động khá mạnh mẽ. Nhiều đảng ủy xã và các chi ủy, chi bộ thôn, xóm, bản còn lúng túng và bất cập trong việc tạo thuận lợi cho cán bộ tu dưỡng TĐCS đạt kết qủa, trong kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng TĐCS của cán bộ. 17 Thứ hai, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội ở nhiều nơi chưa nhận thức sâu sắc về trách nhiệm và quyền lợi của mình, tạo thuận lợi cho CBCC xã tu dưỡng TĐCS đạt kết quả và tham gia giám sát cán bộ về tu dưỡng TĐCS. Thứ ba, tác động của mặt trái kinh tế thị trường; sự phá hoại của các thế lực thù địch; những khó khăn về điều kiện, môi trường hoạt động; những bất cập về chế độ đãi ngộ CBCC xã; sự chỉ đạo công tác xây dựng Đảng của của một số cấp ủy cấp trên đối với đảng ủy xã có lúc chưa cụ thể, sâu sát; sự thiếu gương mẫu tu dưỡng TĐCS của một số cán bộ cấp trên cơ sở. 2.2.2.3. Những kinh nghiệm Một là, thường xuyên quan tâm giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của CBCC xã ở vùng ĐBB về tu dưỡng TĐCS. Hai là, phát huy tính tích cực, tự giác của CBCC xã ở vùng ĐBB trong tu dưỡng, rèn luyện TĐCS. Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa tu dưỡng TĐCS với đấu tranh khắc phục những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, những tiêu cực lạc hậu trong CBCC xã ở vùng ĐBB. Bốn là, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi lực lượng, trước hết là sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng TĐCS của CBCC xã ở vùng ĐBB. Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG TU DƯỠNG TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ Ở VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2025 3.1. DỰ BÁO NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG TU DƯỠNG TÍNH ĐẢNG CỘNG SẢN CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CÁC XÃ Ở VÙNG ĐÔNG BẮC BỘ ĐẾN NĂM 2025 3.1.1. Dự báo những nhân tố tác động đến tu dưỡng tính Đảng Cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã vùng Đông Bắc bộ đến năm 2025 Một là: Yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh nông thôn vùng Đông Bắc bộ, nhất là nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, bảo vệ vững chắc biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc 18 Hai là: Các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ; Nghị quyết Trung ương 4, Khóa XI về xây dựng Đảng; Đại hội Đảng các cấp tiến đến Đại hội XII của Đảng; việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" tiếp tục được triển khai thực hiện và duy trì thường xuyên Ba là: Thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới gần 30 năm của cả nước và các địa phương vùng Đông Bắc bộ; kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế; suy thoái kinh tế những năm gần đây Bốn là: Những tiêu cực trong Đảng, các cơ quan nhà nước, nhất là tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên Năm là: Tư duy, tầm nhìn, phong cách làm việc của người sản xuất nhỏ, tự túc, tự cấp; phong tục, tập quán, truyền thống, quan hệ huyết thống ở nông thôn vùng Đông Bắc bộ 3.1.2. Phương hướng tăng cường tu dưỡng tính đảng cộng sản của cán bộ chủ chốt các xã vùng Đông Bắc bộ 3.1.2.1. Từng cán bộ chủ chốt xã tự giác, tích cực, thường xuyên

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftt_tu_duong_tinh_dang_cong_san_cua_doi_ngu_can_bo_chu_chot_cac_xa_o_vung_dong_bac_bo_giai_doan_hien.pdf
Tài liệu liên quan