Tóm tắt Luận án Vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ và bài học đối với Việt Nam hiện nay

Tệ nạn gian lận trong nghiên cứu khoa học đang ngày càng phổ biến

trên thế giới và Việt Nam không thuộc trường hợp loại trừ với nhiều hình

thức biểu hiện khác nhau. Kinh nghiệm từ nước ngoài cung cấp cho chúng

ta một số bài học về cách thức giải quyết vấn đề này cho các trường đại

học ở nước ta.

Thứ nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ cần phải có một đơn vị để đối

phó và xử lí với các trường hợp gian lận trong khoa học.

Thứ hai, giáo dục đạo đức khoa học cho trí thức từ khi họ còn là

sinh viên

Thứ ba, ở nước ta, gian lận trong nghiên cứu khoa học có biểu hiện

nhiều nhất ở nạn đạo văn. Theo chúng tôi, ngoài việc dạy cho học sinh,

sinh viên phân biệt được thế nào là đạo văn và thế nào là trích dẫn một

cách đàng hoàng, trung thực, bao quát để giải quyết tận gốc nạn đạo văn,

hay rõ hơn là “đạo” tri thức ở nước ta, thì cần cải tổ từ hệ thống giáo dục.

pdf27 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 09/03/2022 | Lượt xem: 229 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận án Vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ và bài học đối với Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tác giả đều thống nhất rằng “Tự do là tài sản quý giá nhất; nó không bao giờ tự đến và không được giữ lại một cách tự động. Con người chỉ có thể giữ gìn tự do ở nơi mà nó được ý thức và con người cảm nhận thấy phải có trách nhiệm về nó”. Là một phạm trù lịch sử - tự do được nhận thức và lý giải theo tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Theo Nguyễn Trần Bạt “Tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi”; Đinh Ngọc Thạch chỉ rõ “tự do là giá trị thiêng liêng và là đặc tính bản chất của con người, là cơ sở bản thể luận của đời sống. Phạm trù “Tự do” dùng để chỉ nhu cầu và khả năng của con người trong những hoạt động phù hợp với những lợi ích và mục tiêu của mình, không cần sự can thiệp hay cản trở từ bên ngoài”. 6 - Một số nghiên cứu nghiêng nhiều hơn về khái niệm trách nhiệm của Nguyễn Văn Thức; Trần Đức Cường; Nguyễn Thị Lan Hương cũng khá nhất trí cho rằng trách nhiệm là khả năng con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình trong mối quan hệ giữa cá thể này với cá thể khác và với cộng đồng, cũng như với môi trường sống xung quanh. Đó là những ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm làm đúng đắn, nếu sai trái thì phải chịu hậu quả và có nghĩa vụ, bổn phận khắc phục hậu quả đó. 1.1.2. Những nghiên cứu lý luận về hoạt động khoa học, công nghệ Tài liệu về hoạt động khoa học, công nghệ hàng đầu phải kể đến là Luật khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2013. Luật đã giải thích các thuật ngữ “khoa học”, “công nghệ”, “nghiên cứu khoa học”, “phát triển công nghệ”; Các khái niệm này và một số khác cũng được đề cập đến trong tài liệu Hướng dẫn điền phiếu thu thập thông tin về nghiên cứu và phát triển năm 2012; Các tác giả ít nhiều có nghiên cứu về hoạt động khoa học, công nghệ như Phan Xuân Dũng; Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Thái Sơn, đều có ý kiến chung là: khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy được tích lũy trong quá trình lịch sử. Khoa học là cuộc tổng kết sự phát triển lâu dài của tri thức. Mục đích của khoa học là phát hiện ra bản chất và các quy luật khách quan của các đối tượng và giải thích chúng. Khoa học là bộ phận quan trọng nhất của văn hóa tinh thần, là hiện tượng mang tính lịch sử, xã hội xuất hiện trong đời sống con người, là một hình thái ý thức xã hội quan trọng. Còn công nghệ là tổng thể nói chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh. 7 1.1.3. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ có trong một số giáo trình đạo đức học và công trình của các tác giả như Nguyễn Đình Hòa; Nguyễn Văn Phúc, trong đó nhấn mạnh khoa học và công nghệ có vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên, những tác động của nền kinh tế thị trường đến hoạt động khoa học, kỹ thuật và công nghệ thường theo hai chiều cả tích cực lẫn tiêu cực. Đến lượt mình, hoạt động khoa học, công nghệ cũng có tác động hai mặt tới sự phát triển xã hội, tới lĩnh vực đạo đức. Trong mối quan hệ đó, “khoa học, kỹ thuật và công nghệ cùng với những thành tựu của nó luôn là cơ sở, là nền tảng cho sự hình thành, phát triển các giá trị đạo đức thực sự, chân chính của con người” và “sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại cùng với việc nó đang từng bước trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp không chỉ làm thay đổi vị trí của con người trong quá trình sản xuất, mà hơn thế, còn làm thay đổi căn bản chính nền sản xuất xã hội. Do đó, khoa học, công nghệ cũng tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đạo đức, làm thay đổi thang giá trị và những nguyên tắc chi phối hoạt động của con người, của xã hội”. Song xã hội và đạo đức của nó cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực mà các nhà khoa học có công trình được tổng quan đã bước đầu chỉ ra. 1.2. Những công trình nghiên cứu về nội dung của vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ Vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ nói riêng và hoạt động lao động, sản xuất của con người nói chung đang được sự quan tâm của toàn xã hội. Nhìn nhận tầm quan trọng của 8 khoa học, công nghệ trong đời sống xã hội, nhờ có những tiến bộ khoa học, công nghệ mà con người ngày càng hiểu được thế giới vô hạn và từng bước giải phóng sức lao động, chuyển từ lao động chân tay sang sử dụng các phương tiện máy móc, lao động trí óc Các ngành khoa học cũng đã cung cấp cho con người những tri thức mới như từng bước khám phá vũ trụ, khám phá thế giới tự nhiên, cung cấp kiến thức hữu ích cho con người. Trong hoạt động khoa học, công nghệ, vấn đề quan hệ giữa tự do và trách nhiệm đạo đức cũng đã được quan tâm nghiên cứu trong các công trình của các tác giả tiêu biểu như: Thomas Kuhn; Vương Thị Bích Thủy; Nguyễn Văn Việt; Nguyễn Trọng Chuẩn; Nguyễn Thái Sơn 1.3. Những công trình nghiên cứu về bài học trong việc kết hợp hài hòa giữa tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ ở Việt Nam hiện nay Để đưa ra bài học cụ thể đối với Việt Nam trong việc kết hợp hài hòa giữa phát triển tự do và nâng cao trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ, tác giả luận án đã tìm hiểu một số nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Thị Lan Hương; Phạm Văn Đức; Lê Thi; Nguyễn Văn Việt; Nguyễn Văn Phúc; Nguyễn Thái Sơn Trong các nghiên cứu này, các tác giả ít nhiều có bàn đến giải pháp để con người có trách nhiệm hơn đối với các hậu quả do hoạt động khoa học, công nghệ của mình gây nên như: giải pháp đối với vấn đề môi trường, đối với các vấn đề của công nghệ y - sinh học Nhưng có thể nói: Lời giải cho câu hỏi: làm thế nào để có thể kết hợp hài hòa giữa phát triển tự do, đồng thời nâng cao trách nhiệm đạo đức của các chủ thể trong hoạt động khoa học, công nghệ ở Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tuy là cần thiết, nhưng cho đến nay, tác giả luận án chưa tìm thấy một nghiên cứu nào về 9 vấn đề này ở Việt Nam. Có thể nói, đây là một khoảng trống lớn cần nghiên cứu. 1.4. Giá trị của những công trình được tổng quan và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm 1.4.1. Giá trị những công trình được tổng quan Thứ nhất, những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên đã đề cập đến những khía cạnh quan trọng của khái niệm tự do, khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm đạo đức; hoạt động khoa học, công nghệ; mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ. Thứ hai, những công trình nghiên cứu trên ở những góc độ nhất định đã phân tích được những nội dung cơ bản của vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ nói chung và trong hoạt động khoa học, công nghệ ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Thứ ba, những công trình nghiên cứu trên là những gợi ý cho tác giả luận án rút ra những bài học đối với Việt Nam hiện nay trong việc kết hợp hài hòa giữa tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống từ góc độ lý luận cho đến nội dung và bài học nhằm phát triển tự do và nâng cao trách nhiệm đạo đức của con người trong hoạt động khoa học, công nghệ nói chung và ở Việt Nam hiện nay nói riêng, đó là khoảng trống lớn để tác giả luận án thực hiện đề tài. 1.4.2. Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ thêm Một là, tiếp tục nghiên cứu làm rõ về mặt lý luận các quan điểm về tự do và trách nhiệm, trách nhiệm đạo đức. Đặc biệt, luận án cần làm sáng 10 tỏ một cách có hệ thống quan hệ giữa tự do và trách nhiệm được thể hiện như thế nào.. Tiếp đến, về mặt lý luận, luận án cần làm rõ nội hàm của khái niệm hoạt động khoa học, công nghệ và xác định rõ, tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ là gì? Hai là, phân tích những nội dung cơ bản của vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ và nhận diện một số vấn đề đặt ra hiện nay đối với Việt Nam trong lĩnh vực này. Ba là, rút ra được những bài học chủ yếu đối với Việt Nam hiện nay trong việc kết hợp hài hòa giữa tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ. Như vậy, có thể nói, đề tài luận án là sự kế thừa kết quả của các nghiên cứu lý luận đi trước về những vấn đề về tự do và trách nhiệm trong hoạt động khoa học, công nghệ. Tuy nhiên, những khoảng trống lý luận và thực tiễn trong các nghiên cứu đó và tầm quan trọng của việc góp phần khắc phục khỏng trống đó ở Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã thôi thúc tôi lựa chọn “Vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ và bài học đối với Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu trong Luận án của mình. 11 Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ 2.1. Quan niệm về tự do và trách nhiệm đạo đức 2.1.1. Quan niệm về tự do Tự do là sự nhận thức được các quy luật khách quan và buộc hoạt động của chủ thể nương theo những quy luật đó nhằm đạt được những mục đích của mình một cách hiệu quả, tối ưu nhất. Tự do được bàn đến trong xã hội, trong hệ thống các quan hệ giữa người với người. Tự do cần cho con người trong việc tạo ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần để thông qua đó, mỗi cá nhân bộc lộ toàn bộ khả năng và thiên hướng của mình. Tự do biểu hiện một cách tập trung và thực tế ở các quyền cơ bản của con người. Tự do nghĩa là con người có những quyền - những quyền này là bất khả xâm phạm. Sự phát triển và sự phong phú các quyền, cũng như những đảm bảo xã hội cho sự thực hiện các quyền đó trở thành tiêu chí của sự phát triển tự do và tiến bộ xã hội. 2.1.2. Quan niệm về trách nhiệm, trách nhiệm đạo đức - Khái niệm trách nhiệm Trách nhiệm là những việc con người phải làm, không thể lảng tránh được. Cho nên, nó còn là khả năng con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình, đồng thời, là thái độ của con người trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đặt ra. Thái độ này thể hiện ở mức độ hoàn thành nghĩa vụ đạo đức và các quy định pháp luật. - Trách nhiệm đạo đức - Ethical Responsibilities Xét về mặt khái niệm, có thể hiểu trách nhiệm đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực được xã hội thừa nhận, nhưng chưa được 12 (hay không cần) luật pháp quy định. Nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của người khác và tiến bộ xã hội. Trách nhiệm đạo đức là hình thức đích thực nhất của trách nhiệm. Nó cao hơn, và bao hàm trong đó cả trách nhiệm pháp lý. Bởi vì, con người ở bất cứ đâu, ở môi trường làm việc, sinh sống nào, thì trách nhiệm đạo đức, sự đòi hỏi của chính lương tâm luôn thúc đẩy cá nhân họ phải làm tròn nghĩa vụ được giao phó và làm tròn trách nhiệm pháp lý yêu cầu. Đồng thời, họ được hưởng thụ các quyền lợi vật chất, tinh thần đã được nhà nước ban hành và các tổ chức quần chúng chính trị - xã hội quy định. 2.1.3. Mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm đạo đức Tự do và trách nhiệm có nội dung phong phú và khác biệt. Nhưng chính sự khác biệt của chúng lại ẩn chứa một mối liên hệ không thể tách rời, thống nhất và bổ sung cho nhau. Không thể có trách nhiệm mà không được tự do trong lựa chọn giá trị và hoạt động, cũng như không thể có tự do thuần túy không liên quan gì đến trách nhiệm đối với người khác, đối với xã hội. Chỉ cá nhân tự do và trách nhiệm mới có thể hiện thực hóa hết mình trong hành động xã hội và chỉ như vậy mới khai mở hết năng lực của mình. 2.2. Tự do, trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ 2.2.1. Khái niệm hoạt động khoa học, công nghệ Hoạt động khoa học, công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. 2.2.2. Khái niệm tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ Tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ là khả năng của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ hiểu được ranh giới 13 pháp luật cho phép và ranh giới đạo đức cho phép để các chủ thể ấy có thể hành động với mục tiêu vì con người, vì sự phát triển chung của toàn nhân loại. Như vậy, tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ không đơn thuần là trạng trái tinh thần - trạng thái tự do của các nhà khoa học trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học mà cao hơn thế nó chính là quá trình mà các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu tìm ra được đúng quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng để từ đó đề ra được những giải pháp (phát minh) nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Có nghĩa là, những khám phá, phát minh khoa học của các nhà khoa học được ứng dụng vào thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm tính đúng đắn của chúng chính là tự do chân chính của hoạt động khoa học, công nghệ. 2.2.3. Khái niệm trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ Có thể hiểu trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ là thái độ, hành vi, nhận thức của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này. Đó là trách nhiệm đạo đức của nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu khoa học của mình. Đó là trách nhiệm đạo đức của các chủ thể trong ứng dụng các thành quả nghiên cứu khoa học vào trong thực tiễn đời sống. Sự thiếu trách nhiệm thể hiện rõ nhất ở hành vi của các cá nhân, tổ chức sử dụng các sản phẩm khoa học, công nghệ lạc hậu, không còn phù hợp với tiêu chuẩn sống của con người để duy trì và phát triển sản xuất nhằm thu lợi cho mình, gây ra những hệ lụy cho xã hội. Sau trách nhiệm của doanh nghiệp, phải kể đến trách nhiệm của nhà nước trong quản lý hoạt động khoa học, công nghệ. 2.3. Mối quan hệ giữa đạo đức và khoa học, công nghệ Mối quan hệ giữa đạo đức với khoa học là một trong những vấn đề quan trọng của cuộc sống con người. Xã hội càng phát triển, khoa học càng đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhân loại càng cần đến đạo đức. 14 Quan hệ giữa khoa học với đạo đức là quan hệ giữa cái chân với cái thiện. Lý tưởng của khoa học và lý tưởng của đạo đức là thống nhất với nhau. Trong cái thiện (đạo đức) đã bao hàm cái chân (chân lý khoa học) và trong cái chân lý đã bao hàm cái thiện. Khoa học chân chính không thể thù địch với đạo đức tiến bộ. Không một phát minh khoa học chân chính nào không đem lại niềm vui và hạnh phúc cho con người. Tri thức khoa học còn giúp cho chủ thể đạo đức nhận thức, lựa chọn, đánh giá đúng đắn các giá trị đạo đức. Đến lượt mình, chính ý thức đạo đức, đặc biệt là lý tưởng đạo đức, đóng vai trò không nhỏ tạo ra một trong những động lực của sự phát triển khoa học, của sự tìm tòi chân lý. Tóm lại, ở chương này, tác giả luận án đã tập trung làm rõ các khái niệm: tự do, trách nhiệm, tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ, trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ, cũng như mối quan hệ giữa đạo đức và khoa học, công nghệ. Chương 3 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ 3.1. Tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ 3.1.1. Biểu hiện của tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ * Tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ được minh chứng bằng thực tế là những khám phá, phát minh của con người ngày càng tăng lên Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại - kết quả của sự phát triển vượt bậc trong hoạt động khoa học, công nghệ là những minh chứng tuyệt vời, chứng minh rằng các nhà khoa học đã càng ngày càng đạt đến tự do khi nghiên cứu và ứng dụng thành công các phát minh, khám phá khoa học của mình vào thực tiễn, phục vụ 15 cho nhu cầu cuộc sống ngày càng phát triển của con người. Các thành tựu của hoạt động khoa học, công nghệ có mặt ở mọi lĩnh vực nghiên cứu như: kỹ thuật điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ y - sinh học * Tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ với tư cách là quyền con người Phát triển vừa là hệ quả của tự do, đồng thời cũng là tiền đề để con người tự do nhiều hơn. Và, tự do đã trở thành điều kiện cho sự phát triển khoa học và công nghệ hiện đại. Tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ không những phát huy sức sáng tạo của cá nhân, tổ chức mà còn phát huy sức mạnh tổng thể từ những cái đã có, để sáng tạo ra những cái cần có. Do đó, xã hội cần tạo mọi điều kiện và cho phép các nhà khoa học được tự do nghiên cứu, tự do ứng dụng các thành quả nghiên cứu khoa học đến đâu, trong phạm vi nào. Thêm vào đó, mỗi quốc gia cũng tự xây dựng cho mình chiến lược phát triển khoa học, công nghệ riêng. 3.1.2. Giới hạn của tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ * Những hậu quả tiêu cực trong hoạt động khoa học, công nghệ là một trong những giới hạn của tự do của con người trong hoạt động này Sự phát triển kinh tế, công nghệ tạo điều kiện cho sự phát triển con người thông qua việc đáp ứng ngày một đầy đủ hơn các nhu cầu về vật chất, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, giải trí... Tất cả những điều đó làm cho sự lựa chọn giá trị cũng như hoạt động của con người ngày càng tự do hơn, được đảm bảo hơn. Tuy nhiên, khoa học, công nghệ với đỉnh cao là cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại và hiện nay nhân loại đang bước vào cách mạng công nghệ 4.0, với nhiều mặt trái của nó như: môi trường sinh thái bị ô nhiễm, hậu quả tiêu cực của Cuộc cách mạng thông tin - công nghệ như tội phạm mạng máy tính, những hệ lụy chưa giải đáp được do Công nghệ y - sinh học gây ra, như hậu quả của công nghệ hạt nhân nguyên tử, công nghệ vũ trụ, công nghệ vật liệu mới Như vậy, 16 những hậu quả tiêu cực và những thách thức từ các thành tựu của khoa học và công nghệ còn rất nhiều. Những gì nêu trên đây mới chỉ là những ví dụ cụ thể trong một số công nghệ điển hình hiện nay. Điều đó nói lên con người (trong đó có ở Việt Nam) chưa thể làm chủ được quá trình sử dụng công nghệ phục vụ cho sự phát triển kinh tế đất nước. Nó cũng là giới hạn của tự do của con người trong hoạt động khoa học, công nghệ. * Trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đạo đức cũng là ranh giới của tự do lựa chọn trong nghiên cứu của các nhà khoa học Tự do trong nghiên cứu khoa học là quá trình các nhà khoa học nhận thức được các quy luật khách quan để chủ động và tích cực cải tạo xã hội phát triển. Khi khoa học, công nghệ ngày càng phát triển thì tự do đó của con người lại càng có điều kiện được nâng lên nhưng nó không đơn thuần ở lĩnh vực nhận thức sự vật, hiện tượng mà theo đó là hàng loạt những vấn đề về đạo đức được đặt ra. Do vậy, trong lĩnh vực hoạt động này, tự do của con người là tự do có giới hạn - tự do tương đối. 3.2. Trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ 3.2.1. Trách nhiệm đạo đức của các nhà khoa học trong nghiên cứu khoa học * Trách nhiệm đạo đức của nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu Nhà khoa học có trách nhiệm đạo đức là nhà khoa học đặt ra câu hỏi nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn đạo đức, trong quy trình làm thí nghiệm hay thu thập dữ liệu, trách nhiệm đạo đức đòi hỏi nhà nghiên cứu tuân thủ các quy tắc như tôn trọng quyền của đối tượng tham gia nghiên cứu, và trung thực như không được thay đổi và ngụy tạo dữ liệu. Trong giai đoạn công bố kết quả nghiên cứu, trách nhiệm đạo đức của nhà nghiên cứu đòi hỏi họ phải báo cáo đầy đủ và chính xác dữ liệu thu thập được, và phải tôn trọng các tiêu chuẩn về đứng tên tác giả bài báo khoa học. Có như vậy thì khoa học, cũng như văn hóa trong nghiên cứu khoa học mới có thể tồn tại được. 17 * Trách nhiệm đạo đức của nhà khoa học trước những hệ quả xấu do những nghiên cứu của họ gián tiếp gây ra Những hậu quả do hoạt động khoa học, công nghệ hiện nay gây ra đối với cuộc sống con người là không thể xem nhẹ. Vậy các nhà khoa học có phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng và truyền bá các kết quả nghiên cứu của mình không? Đây là câu hỏi xuyên suốt tiến trình phát triển của khoa học - công nghệ. 3.2.2. Trách nhiệm đạo đức của các cá nhân, tổ chức trong ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống Trách nhiệm này trước hết đòi hỏi các tổ chức, cá nhân cần ưu tiên đầu tư cho sản xuất các công nghệ mới, thiết bị mới, sản phẩm thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên vật liệu, năng lượng, tìm kiếm các vật liệu mới trong sản xuất, để hạn chế rác thải ra môi trường. Một là, trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động khoa học, công nghệ trước những vấn đề về môi trường sinh thái. Hai là, trách nhiệm đạo đức của các tổ chức, cá nhân ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống đối với sự tồn tại và phát triển của chính bản thân con người. Minh họa điển hình nhất có thể tìm thấy trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Trong công nghệ sinh học cuộc “cách mạng xanh” diễn ra vào những năm 60 - 70 của thế kỷ XX đã từng cứu nhiều nước châu Á và Mỹ Latinh thoát khỏi nạn đói, đặc biệt là ở Braxin và Ấn Độ. Bắt đầu từ những năm 80, nhân loại bước vào giai đoạn thứ hai của cuộc cách mạng này, tập trung vào phát triển, lai tạo các giống mới có năng suất cao, xây dựng hệ thống tưới tiêu hiện đại, tăng luân canh và tìm ra những loại hóa chất mới đảm bảo cho cây trồng phát triển. Song, chỉ sau đó thôi, con người lại phải gánh chịu hậu quả nặng nề về ô nhiễm môi trường và về vệ sinh, an toàn lương thực, thực phẩm cũng do chính công nghệ gen cùng với các công 18 nghệ khác mang lại. Tác hại của các sản phẩm chuyển đổi gen đối với con người là chưa thể lường hết, do đó cũng là thách thức lớn đối với con người; Các nghiên cứu trong lĩnh vực nhân bản vô tính sẽ có nguy cơ bị lạm dụng vào các mục đích phi nhân tính. Tóm lại, ở chương này, tác giả luận án đã tập trung phân tích những nội dung cơ bản của vấn đề tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ. Trả lời các câu hỏi: biểu hiện của tự do trong hoạt động khoa học, công nghệ là gì? Trách nhiệm đạo đức của các chủ thể trong hoạt động khoa học, công nghệ là gì? Chương 4 TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY 4.1. Một số vấn đề về tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ được đặt ra hiện nay 4.1.1. Vấn đề đặt ra đối với các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ Thứ nhất, tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ đặt ra vấn đề giới hạn của những sáng tạo khoa học, công nghệ. Thứ hai, tự do và trách nhiệm đạo đức trong hoạt động khoa học, công nghệ đặt ra vấn đề cơ sở đạo đức của hoạt động khoa học, công nghệ. 4.1.2. Vấn đề đặt ra đối với chủ thể quản lý hoạt động khoa học, công nghệ Thứ nhất, vấn đề gian lận trong nghiên cứu khoa học có xu hướng gia tăng. Đặt ra vấn đề là chủ thể quản lý các cấp từ cơ sở đến nhà nước trung ương phải ngăn ngừa, đối phó với các hình thức gian lận trong hoạt động 19 khoa học như thế nào cho hữu hiệu để khoa học thực sự phát triển mang lại lợi ích cho xã hội và làm sáng thêm nhân cách của nhà khoa học? Thứ hai, nền tảng sở hữu trí tuệ trong hoạt động khoa học, công nghệ chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ và không vững chắc. Thứ ba, đảm bảo thực hành dân chủ thực chất trong hoạt động khoa học, công nghệ. Thứ tư, sự quản lý, điều phối hoạt động khoa học, công nghệ bằng các công cụ pháp luật còn thiếu và yếu, không nhất quán và thiếu triệt để. 4.2. Bài học đối với các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ 4.2.1. Các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ cần xác định rõ giới hạn của những sáng tạo khoa học, công nghệ Việc xác định ngưỡng của tự do trong sáng tạo khoa học vô cùng cần thiết bởi tự nó sẽ quyết định tính hướng đích của kết quả nghiên cứu. Tự do trong sáng tạo khoa học, công nghệ chính là sự “làm chủ” những sáng tạo của mình ở khía cạnh tích cực. Các tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động khoa học, công nghệ cần phải lựa chọn dứt khoát rằng: con người nắm lấy khoa học, công nghệ chứ không phải là ngược lại. 4.2.2. Các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ cần nhận thức rõ cơ sở đạo đức của những sáng tạo khoa học, công nghệ Xét ở khía cạnh đạo đức học, đặc biệt là từ mối quan hệ của tự do và trách nhiệm trong đạo đức học, có thể khẳng định rằng, vấn đề kiểm soát mặt trái, những khía cạnh tiêu cực của hoạt động khoa học, công nghệ đã trở thành một vấn đề toàn cầu. Giải quyết những vấn đề toàn cầu đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của thời đại hiện nay, thu hút sự quan tâm của 20 hầu hết gi

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_van_de_tu_do_va_trach_nhiem_dao_duc_trong_ho.pdf
Tài liệu liên quan