Tóm tắt Luận văn Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - Tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ hiện nay

Về trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,

chủ trương, nghị quyết của Đảng: Kết quả có 68.28% công nhân trên địa bàn đã

được tuyên truyền. Khảo sát của đề tài cho kết quả có 78.32% ý kiến tự đánh giá

có trình độ nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ

trương, nghị quyết của Đảng, trong đó tự đánh giá mức tốt là 8.66%, khá 14%,

trung bình 55.66%. Có 21.67% tự đánh giá là kém.

Đối với nhận thức về pháp luật: Kết quả có 69.89% công nhân trên địa

bàn đã được tuyên truyền. Khảo sát của đề tài cho thấy có 11.67% tự nhận là tốt,

32% khá, 45.5% ở mức trung bình và chỉ có 10.83% tự nhận là kém.

Về mức độ tin tưởng vào sự đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư

tưởng Hồ Chí Minh; Chỉ có 10.67% tin tưởng, 53% cho biết lúc có lúc không.

Tuy nhiên vẫn có tới 24% cho biết không tin tưởng và 12.33% cho biết khó trả

lời.

pdf24 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 09/03/2022 | Lượt xem: 77 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Hiệu quả công tác giáo dục chính trị - Tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thực trạng hiệu quả công tác GDCT-TT trong công nhân các KCN ở miền ĐNB. - Xác định những vấn đề đặt ra, đề xuất những giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬNVỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNGCHO CÔNG NHÂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.1. Khái niệm giáo dục chính trị - tư tưởng 1.1.1. Các khái niệm có liên quan đến công tác giáo dục chính trị - tư tưởng Khái niệm tư tưởng:Tư tưởng là hình thức tồn tại của ý thức con người, là sản phẩm của tư duy. Tư tưởng bao gồm các quan niệm, quan điểm của con người về sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh. 9 Khái niệm hệ tư tưởng:Hệ tư tưởng là hệ thống những tư tưởng và quan điểm lý luận thể hiện sự nhận thức và đánh giá hiện thực xung quanh, xuất phát từ những lợi ích xã hội nhất định của giai cấp cầm quyền; bao gồm các tư tưởng và quan điểm về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ, triết học... Khái niệm chính trị:Chính trị là mối quan hệ giữa giai cấp này với giai cấp khác trong xã hội, liên quan mật thiết đến quyền lực chính trị; là sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước; là những phương thức, phương pháp, những hành động chính trị mà các giai cấp, các đảng phái thực hiện trong việc giành, giữ, điều khiển hoạt động của nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp mình. 1.1.2. Khái niệm công tác giáo dục chính trị - tư tưởng Công tác GDCT-TT là hoạt động truyền bá và lĩnh hội chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; những tri thức chính trị của dân tộc và nhân loạinhằm nâng cao nhận thức chính trị, hình thành niềm tin, nâng cao tính tích cực CT-XH của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. 1.2. Công nhân các khu công nghiệp và công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp 1.2.1. Khái niệm công nhân các khu công nghiệp Khái niệm giai cấp công nhân: GCCN Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp Khái niệm công nhân: Công nhân là “người lao động chân tay làm việc ăn lương trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường. Khái niệm khu công nghiệp: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định. Như vậy, công nhân các KCN ở Việt Nam: Là những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp trong khu vực có ranh giới và địa lý xác định. 1.2.2. Khái niệm, các yếu tố cấu thành công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp Khái niệm: Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp là hoạt động truyền bá và lĩnh hội chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; những tri thức chính trị của dân tộc và nhân loạinhằm nâng cao nhận thức chính trị, hình thành niềm tin, nâng cao tính tích cực CT-XH, tự giác, sáng tạo của người công nhân trong lao động, sản xuất và cuộc sống. 10 Các yếu tố của công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp bao gồm: Một là, chủ thể và đối tượng; hai là, mục tiêu, mục đích và nội dung; ba là, phương thức; bốn là, phương tiện; năm là, hiệu quả. 1.3. Hiệu quả, phân loại và tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp 1.3.1. Hiệu quả giáo dục chính trị - tư tưởng và hiệu quả giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp Hiệu quả công tác GDCT-TT: Là sự tương quan giữa kết quả thực tế đạt được của quá trình GDCT-TT với mục đích của công tác GDCT-TT (được xác định bằng việc đề ra và hoàn thành các mục tiêu cụ thể trong từng thời điểm cụ thể, xác định) đề ra và với chi phí về nguồn lực hợp lý, tiết kiệm trong một điều kiện xã hội nhất định nhằm trang bị kiến thức chính trị, hình thành niềm tin, cổ vũ tính tích cực CT-XH cho đối tượng. Hiệu quả công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN: Là sự tương quan giữa kết quả thực tế đạt được của quá trình GDCT-TT cho công nhân các KCN với mục đích của công tác GDCT-TT (được xác định bằng việc đề ra và hoàn thành các mục tiêu cụ thể trong từng thời điểm cụ thể, xác định) đề ra và với chi phí về nguồn lực hợp lý, tiết kiệm trong một điều kiện xã hội nhất định nhằm trang bị kiến thức chính trị, hình thành niềm tin, cổ vũ tính tích cực CT-XH cho công nhân các KCN. 1.3.2. Phân loại hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp Một là, phân loại theo phạm vi tác động: Có hiệu quả chung và hiệu quả cụ thể. Hai là, phân loại theo thời gian tác động: Có hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài. Ba là, phân loại theo lĩnh vực tác động: Có hiệu quả tinh thần và hiệu quả thực tiễn. Bốn là, phân loại theo tính hiện thực của hiệu quả: Có hiệu quả sơ bộ, hiệu quả dự đoán và hiệu quả thực tế. Năm là, phân loại theo mức độ đạt được so với mục tiêu, mục đích đặt ra: Có hiệu quả trong dự định và hiệu quả ngoài dự định. 1.3.3. Tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp 1.3.3.1. Nhóm tiêu chí về sự tương quan giữa kết quả với mục tiêu Một là, các chủ thể có xác định mục tiêu đúng và trúng hay không. Hai là, mục tiêu xác định có phù hợp hay không, tức có quá cao hoặc quá thấp hay không. Ba là, có thực hiện đạt và vượt mục tiêu đặt ra hay không. 1.3.3.2. Nhóm tiêu chí về sự tương quan giữa kết quả với mục đích 11 Một là, tiêu chuẩn về tri thức. Hiệu quả này được đánh giá bằng các tiêu chí về nhận thức và kiến thức. Về nhận thức: Mức độ thấp nhất để xem công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN có hiệu quả hay không là bản thân đối tượng có hứng thú, sẵn sàng tiếp nhận các nội dung mà chủ thể truyền tải hay không. Người công nhân có thật sự có mong muốn tìm hiểu, hiểu biết những vấn đề liên quan đến chính trị như Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hay không. Về kiến thức: Mức độ hiểu biết của đối tượng về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; mức độ am hiểu về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung và những chủ trương, chính sách liên quan trực tiếp đến bản thân người công nhân; về những tri thức mới tiếp nhận so với trước khi trở thành công nhân ở mức độ nào; sau mỗi buổi, một đợt GDCT-TT tri thức mới tiếp nhận của đối tượng tăng lên như thế nào. Hai là, tiêu chuẩn về niềm tin: (1). Mức độ tin tưởng vào sự đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tin tưởng vào sự đảm bảo công bằng của các cơ quan công quyền. (2). Có khả năng định hướng và đánh giá đúng các sự kiện, kiên định lập trường, quan điểm, nhất là trong các tình huống khó khăn. (3). Có ý thức trong đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Min; chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. (4). Thể hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước mọi hoàn cảnh khó khăn, đấu tranh và tỏ thái độ trước các quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng, chính trị; các biểu hiện tiêu cực trong trong xã hội và trong cuộc sống. Ba là, tiêu chuẩn thực tiễn: Được đánh giá ở tính tích cực CT-XH theo trên các tiêu chí sau: Một là, bản thân người công nhân các KCN có ý thức cao về nghĩa vụ công dân, thể hiện ở việc gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân. Hai là, tham gia tích cực, tự giác vào việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo, tuyên truyền, phổ biến Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ba là, tham gia tích cực, tự giác vào các lĩnh vực khác nhau của công tác xã hội; vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặt ra trước xã hội; vào việc quản lý các công việc của Nhà nước, của tập thể, của các tổ chức CT-XH. Bốn là, tham gia tích cực, tự giác vào việc xây dựng đường lối, chính sách của Đảng, hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; tham gia bầu cử các cơ quan chính quyền của Nhà nước; các tổ chức CT-XH; tham gia xây dựng Đảng Năm là, tham gia tích cực, tự giác vào cuộc đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong đời sống chính trị như tệ quan liêu, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, tham nhũng, thói thờ ơ chính trị 12 1.4.3. Nhóm tiêu chí về sự tương quan giữa kết quả với chi phí Một là, tiêu chí về sử dụng nguồn nhân lực trong công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp: Xem xét tính hợp lý và tiết kiệm của việc sử dụng nguồn nhân lực cho toàn bộ hoạt động và cho từng hoạt động GDCT-TT; quy mô huy động và cường độ sử dụng nhiều hay ít. Hai là, tiêu chí về sử dụng kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện trong công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp: Xem xét tính hợp lý của việc phân bổ tài lực, vật lực cho từng hoạt động, cho các khâu, các quá trình của công tác GDCT-TT. Đối với một hoạt động công tác GDCT-TT, khi nào chi phí về tài chính, cơ sở vật chất, phương tiện phải thấp nhất, tức cùng một chi phí nhưng kết quả đạt được là cao nhất thì hoạt động này đã đạt hiệu quả. Ba là, tiêu chí về sử dụng thời gian trong công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp: Xem xét ở thời gian thực hiện các mục tiêu công tác GDCT-TT có diễn ra đúng kế hoạch hay không? Sớm hay muộn? Tổng thời gian giành cho từng hoạt động công tác và tổng thời gian giành cho toàn bộ công tác này trong từng giai đoạn là nhiều hay ít. Tính hợp lý, tiết kiệm của phân bổ khối lượng thời gian cho từng hoạt động cao hay thấp. Chương 2 ĐẶC ĐIỂM; NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - TƯ TƯỞNG CHO CÔNG NHÂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ HIỆN NAY 2.1. Đặc điểm; những yếu tố tác động đến hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ hiện nay 2.1.1. Các khu công nghiệp và đặc điểm công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ Khái quát về các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ: ĐNB bao gồm 05 tỉnh thành: TP. Hồ Chí MInh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và Tây Ninh. Toàn vùng ĐNB hiện có 116 KCN, KCX, khu kinh tế đã đi vào hoạt động với diện tích 37.946,29 ha. Số dự án còn hiệu lực là 4.937 với vốn đăng ký 69.014.488 nghìn USD (ngoài ra còn 50.249.580 nghìn đồng). Đặc điểm công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ: Vùng Đông Nam Bộ hiện có 1.039.795 công nhân đang làm việc tại các KCN, KCX, khu kinh tế. Riêng 03 địa phương mà đề tài tiến hành khảo sát là TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương, tổng số 748.078 người, chiếm 72,01% tổng số công nhân trên địa bàn. Công nhân các KCN ở miền Đông Nam Bộ có những đặc điểm, đó là: Trên 95 % công nhân các KCN ở miền ĐNB làm việc trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Đa số công nhân trong các KCN có trình độ học vấn hạn chế, nhiều người trong số họ trước khi trở thành công nhân chưa có điều kiện tiếp cận 13 cơ bản các nội dung về chính trị - tư tưởng. Lao động nữ chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu lao động chung của các KCN ở miền ĐNB. Đa số công nhân trong các KCN ở miền ĐNB là người nhập cư và làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực dịch vụ và sản xuất công nghiệp. Công nhân trong các KCN ở miền ĐNB làm việc trong các doanh nghiệp dưới sự quản lý của các chủ doanh nghiệp mà nhiều nhất là Hàn Quốc, Đài Loan. Tất cả những đặc điểm trên của công nhân các KCN ở miền ĐNB sẽ tác động không nhỏ đến hiệu quả công tác GDCT-TT cả ở thuận lợi và khó khăn, tất nhiên mặt khó khăn là rất lớn. 2.1.2. Những yếu tố tác động đến hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp ở miền Đông Nam Bộ 2.1.2.1. Các yếu tố khách quan Một là, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: Đây là xu thế tất yếu của xã hội và chắc chắn đã và đang tác động tới mọi lĩnh vực của đất nước, trong đó có công tác GDCT-TT. Hai là, cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức: Công tác GDCT-TT cho công nhân sẽ có hiệu quả khi các tiện ích của công nghệ thông tin được khai thác, áp dụng rộng rãi để chuyển tải nội dung một cách thuận lợi và tiết kiệm. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất là trước bối cảnh toàn cầu hóa thông tin hiện nay có thể sẽ tác động đến một bộ phận công nhân đó là các thông tin xấu, thông tin độc hại trên mạng xã hội đang ngày càng lấn át các thông tin tốt đẹp, thế nhưng bản thân người công nhân lại chưa có hiểu biết để “đề kháng”. Ba là, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày một từng bước hoàn thiện: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm nhiều hơn đến đội ngũ công nhân các KCN nên đời sống của công nhân các KCN dần được cải thiện. Đội ngũ công nhân có điều kiện để quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề chính trị của đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng đã xuất hiện những hạn chế, bất cập cần giải quyết. Công tác GDCT-TT sẽ góp phần giải quyết những hạn chế, bất cập này. Bốn là, môi trường làm việc và môi trường xã hội: Với một môi trường làm việc dân chủ, minh bạch và được bảo vệ về quyền lợi, được chăm sóc, được lắng nghe, được tự do bày tỏ quan điểm và chính kiến chắc chắn người công nhân sẽ rất gắn bó với môi trường ấy và quan tâm nhiều hơn đến chính trị. Năm là, điều kiện tự nhiên: Các điều kiện tự nhiên như địa hình, thời tiết, dân cưcó ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả công tác GDCT-TT. Sáu là, điều kiện kinh tế - chính trị: Hệ thống chính trị vững mạnh thì các thiết chế tư tưởng, các chủ thể CTTT được tăng cường, vững mạnh. Không khí chính trị cởi mở, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với người công nhân được thể hiện bằng việc ban hành những chủ trương, chính sách đáp ứng lợi ích thiết thực và chính đáng của người công nhân sẽ có tác dụng kích thích, thúc đẩy tinh thần hăng say học tập và sáng tạo của họ, giúp họ tin tưởng, kỳ 14 vọng hơn vào chế độ và họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề thiết thân cũng như những vấn đề về chính trị. Bảy là, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công nhân: Những chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, mở rộng và tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế gắn với vị trí, vai trò, nhiệm vụ to lớn của GCCN chính là cơ sở tạo điều kiện cho đội ngũ công nhân ngày càng phát triển lớn mạnh và ngày càng nâng cao ý thức giác ngộ chính trị. 2.1.2.2. Các yếu tố chủ quan Một là, về năng lực lãnh đạo, quản lý và sự quan tâm của các chủ thể: Việc quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện của các chủ thể thể hiện ở việc vạch ra mục tiêu, xây dựng kế hoạch và xác định các biện pháp phù hợp để thực hiện. Hai là, số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ tư tưởng: Số lượng và chất lượng cán bộ tư tưởng là nhân tố đảm bảo mang lại hiệu quả. Ba là, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện phù hợp, thiết thực, hấp dẫn: Sự huy động và sử dụng nhiều phương pháp, hình thức, phương tiện khác nhau sẽ giúp cho đối tượng có nhiều lựa chọn khác nhau để tiếp cận nội dung và đó cũng là biện pháp giúp phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong công tác GDCT-TT. Bốn là, tính đồng bộ, hiện đại và phương thức tiên tiến trong sử dụng phương tiện, cơ sở vật chất: Phương tiện, cơ sở vật chất hiện đại, đồng bộ sẽ góp phần hạn chế chi phí, tăng tính hấp dẫn của nội dung, giảm chi phí về nhân lực của chủ thể. 2.2. Kết quả và thực trạng hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ 2.2.1. Kết quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp vùng Đông Nam Bộ Một là, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các Nghị quyết của Đảng, các sự kiện chính trị: Trung bình mỗi năm có 68.28% tổng số công nhân các KCN trên địa bàn được tuyên truyền về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Hai là, tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Trung bình mỗi năm có 69.89% tổng số công nhân các KCN trên địa bàn được tuyên truyền về pháp luật. 2.2.2. Thực trạng hiệu quả công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho công nhân các khu công nghiệp miền Đông Nam Bộ 2.2.2.1. Việc xác định và đề ra mục tiêu - Thành tựu: Các chủ thể công tác GDCT-TT cho công nhân các KCN ở miền ĐNB đã quan tâm đến việc xác định mục tiêu hàng năm, nửa nhiệm kỳ và cả nhiệm kỳ. Có những địa phương đã xác định mục tiêu bằng những con số cụ thể. 15 - Những hạn chế: Mục tiêu là cái nhìn thấy, cái đo, đếm được. Đề ra mục tiêu càng cụ thể, rõ ràng càng dễ thực hiện. Tuy nhiên, trong cả ba địa phương mà đề tài nghiên cứu, có những năm, có địa phương xác định mục tiêu nhưng chủ yếu là định tính và còn nhầm lẫn mục tiêu với nội dung. 2.2.2.2. Nhận thức chính trị - tư tưởng của công nhân Một là, về mức độ tham gia các quá trình truyên truyền, GDCT-TT: Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy, 50,5% ý kiến được hỏi cho biết đã thường xuyên tham gia các buổi tuyên truyền, giáo dục về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Vẫn còn tới 49.5% ý kiến cho biết vẫn không thường tham gia các buổi tuyên truyền về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hai là, về mức độ hứng thú: 39.16% ý kiến được hỏi trả lời có lúc hứng thú và có lúc không; 50.33% ý kiến cho biết không hứng thú. Cũng vậy, về mức độ hứng thú khi tham dự các buổi nghe tuyên truyền pháp luật vẫn có 20.83% ý kiến cho biết lúc có, lúc không và 12% ý kiến cho biết không hứng thú. Ba là, về mức độ mong muốn tìm hiểu: Đã có một bộ phận người lao động có nhu cầu và mong muốn tìm hiểu về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh với 17.16% ý kiến. Tuy nhiên, mức độ mong muốn tìm hiểu về pháp luật khá cao, với 67.16% ý kiến. Bốn là, mức độ quan tâm đến những sự kiện, hiện tượng đang diễn ra: Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy cơ bản công nhân các KCN trên địa bàn quan tâm đến các vấn đề thời sự trong nước và quốc tế với 74.16% ý kiến. Tuy nhiên, vẫn có 18.83% ý kiến cho biết không quan tâm và 07% ý kiến khó trả lời. 2.2.2.3. Kiến thức chính trị - tư tưởng của công nhân Một là, mức độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, nghị quyết của Đảng: Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy, đã có một bộ phận công nhân các KCN ở miền ĐNB có những hiểu biết cơ bản về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, nghị quyết của Đảng với 22.66% tự nhận có hiểu biết tốt và khá. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công nhân các KCN trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế khi có tới 55.66% tự nhận chỉ có hiểu biết về nội dung này ở mức trung bình và vẫn còn 21.67% tự nhận thức có hiểu biết kém. Hai là, mức độ hiểu biết về chính sách pháp luật của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến bản thân người công nhân: Đến nay, đã 100% người sử dụng lao động được tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động và các quy định pháp luật liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp, hơn 85% công nhân được tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động cũng như các quy định pháp luật liên quan tới quyền và nghĩa vụ của công dân và người lao động. Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy, có 43.67% ý kiến cho biết bản thân có hiểu biết tốt và khá về pháp luật. Tuy nhiên, vẫn có tới 45.5% ý kiến tự nhận có nhận thức trung bình và 10.83% tự nhận có nhận thức kém. 16 Ba là, về những tri thức mới tiếp nhận: Đa số công nhân khi được hỏi trả lời họ có hiểu biết về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước là sau khi vào làm công nhân (68.18%). Có 24.83% cho biết có hiểu biết trước khi vào và 07% ý kiến cho là cả trước và sau. 2.2.2.4. Về niềm tin Một là, mức độ tin tưởng vào sự đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tin tưởng vào sự đảm bảo công bằng của các cơ quan công quyền: Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy có 63.67% số ý kiến được hỏi cho biết tin tưởng và có lúc tin tưởng, có lúc không đối với Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở mức độ không tin tưởng vẫn còn 24% ý kiến và có 12.23% ý kiến khó trả lời.. Về mức độ tin tưởng vào các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước hiện nay đối với người lao động: Đa số công nhân các KCN trên địa bàn cho biết tin tưởng với 61% ý kiến và có 14.33% ý kiến cho biết lúc có, lúc không. Tuy nhiên, vẫn còn 24.66% ý kiến cho biết không được quan tâm và khó trả lời. Hai là, mức độ định hướng và đánh giá đúng các sự kiện, kiên định lập trường, quan điểm, nhất là trong các tình huống khó khăn Về các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người lao động tại các doanh nghiệp hiện nay: Kết quả khảo sát của đề tài cho thấy có 46,67% ý kiến cho biết đã được quan tâm. Tuy nhiên, vẫn còn 40.83% cho biết ít được quan tâm, 7.33% cho rằng không được quan tâm và 5.17% ý kiến cho biết khó trả lời. Về các chế độ, chính sách tại các doanh nghiệp: Có 48.5% ý kiến cho biết đã được quan tâm. Thế nhưng, vẫn còn 42.83% ý kiến cho biết ít được quan tâm, 4.67% cho biết không được quan tâm và có 04% khó trả lời. Ba là, mức độ trong đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Kết quả khảo sát của đề tài cũng cho thấy đã có một số công nhân đã bắt đầu có nhận thức và hành động trong việc tham gia đấu tranh, bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Có 11% ý kiến cho biết sẽ ra sức tranh luận và tranh luận khi có một người cùng làm việc hoặc cư trú xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tất nhiên, đây là một vấn đề lớn đòi hỏi những người chủ động tham gia đấu tranh phải có trình độ học vấn, trình độ lý luận nhất định. Vì vậy, kết quả khảo sát của đề tài cho thấy có tới 85.83% ý kiến cho biết sẽ lắng nghe và không tranh luận Bốn là, về bản lĩnh chính trị, tham gia đấu tranh, bày tỏ thái độ trước các quan điểm sai trái, thù địch về tư tưởng, chính trị; các biểu hiện tiêu cực trong trong xã hội và trong cuộc sống 17 Đa số công nhân các KCN ở miền ĐNB hiện nay đều chăm chỉ trong lao động và đã có môt bộ phận công nhân tham gia vào các công việc quản lý của cộng đồng. Một bộ phận công nhân đã tham gia vào các đội tự quản ở cộng đồng dân cư, tham gia bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực dân cư và trong khu vực các KCN. Ngày hội vì an ninh Tổ quốc được tổ chức hàng năm ở các KCN thu hút rất nhiều công nhân tham gia. 2.2.2.5. Biểu hiện ở tính tích cực chính trị - xã hội Một bộ phận công nhân các KCN vùng ĐNB đã có ý thức cao về nghĩa vụ công dân, gương mẫu trong lao động và trong cuộc sống. Tuyệt đại đa số công nhân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trước đây, đã xảy ra tình trạng công nhân phản ứng cực đoan khi chủ doanh nghiệp sỉ nhục; tuy nhiên gần đây, trước tình huống này, đa số họ đã chọn hình thức báo cáo cho công đoàn và các cơ quan có trách nhiệm của Nhà nước. Không những chỉ trong lao động, trong cuộc sống thường ngày, các công nhân ở khu vực đã tham gia rất nhiều các phong trào tình nguyện vì cộng đồng như hiến máu cứu người, đóng góp xây dựng quỹ tương thâm tương ái hỗ trợ những công nhân không may bị tai nạn, bệnh tật Đã có một bộ phận người lao động (34.16%) cho biết có tuyên truyền về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho người thân. Tuy nhiên, đây là công việc đòi hỏi cao về nhiều mặt nên vẫn có tới 50.16% ý kiến cho biết không tuyên truyền và 15.67% cho biết lúc có, lúc không. Tuy nhiên, đa số ý kiến khi được hỏi cho biết sẵn sàng góp ý kiến đối với các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nếu được các cơ quan có trách nhiệm đề nghị với 62.83% sẵn sàng, chỉ có 19.5% không sẵn sàng và 17.67% cho biết lúc có, lúc không. Trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016- 2021, tỷ lệ công nhân các KCN ở miền ĐNB đi bầu cử rất cao (trên 98%). Kết quả này cũng cơ bản trùng khớp với kết quả nghiên cứu của đề tài khi có tới 98.67% cho biết sẵn sàng tham gia b

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_van_hieu_qua_cong_tac_giao_duc_chinh_tri_tu_tuo.pdf
Tài liệu liên quan