Tóm tắt Luận văn Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk

Quản lý nhà nước về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành pháp nhằm giữ

gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về văn hoá là quản

lý các hoạt động văn hoá bằng chính sách và pháp luật, là toàn bộ sự tác động có tổ chức tới các hoạt động

văn hóa, vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Quản lý nhà nước về văn hóa nhằm hướng tớimục tiêu “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Quản lý văn hoá ở tỉnh nói

chung, huyện Krông Búk nói riêng có vị trí quan trọng trong hệ thống bộ máy quản lý, đặt ra nhiều vấn đề,

trong đó có vấn đề quản lý văn hoá. Hiệu quả của quản lý nhà nước về văn hoá cấp huyện tác động đến sự

phát triển cả về mặt kinh tế, văn hoá và xã hội

pdf26 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 08/03/2022 | Lượt xem: 44 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phản văn hóa” [5, tr.75-76]. 1.3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về văn hóa 1.3.5.1. Yếu tố con người: Con người là nguồn lực vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả cơ quan QLNN cũng như mục tiêu chung của tổ chức, nếu cán bộ công chức nắm bắt tốt công việc thì công việc của tổ chức sẽ được thực hiện thuận lợi nhanh chóng. Ngược lại nếu có nhiều cán bộ công chức ở các bộ phận không nắm rõ yêu cầu của công việc hoặc không có thái độ đúng đắn với công việc thì công việc của cơ quan gặp rất nhiều khó khăn. Trong cơ quan hành chính nhà nước nhiều cán bộ chuyên môn không là tốt công tác lập hồ sơ văn bản, không có ý thức tuân thủ các quy trình chuyển giao văn bản trong công việc hàng ngày một cách đầy đủ. Do vậy công việc kiểm tra hoạt động các bộ phận khác gặp rất nhiều khó khăn. 1.3.5.2. Yếu tố môi trường pháp lý: - Đề cập đến vấn đề này trước hết cần nói đến pháp luật, tức là những quy định của pháp luật liên quan đến công tác QLNN về VH và cán bộ công chức. Mỗi ngành nghề đều có những văn bản pháp luật điều chỉnh riêng. Những quy định mang tính chất pháp lý sẽ được điều chỉnh, quy định và định hướng hoạt động của cán bộ công chức sẽ tuân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. - Ảnh hưởng của môi trường pháp lý đến công tác QLNN về VH và cán bộ công chức là những văn bản quy phạm pháp luật quy định: + Luật về tổ chức bộ máy quản lý văn hóa đối với các Hội đồng, các Ủy ban, các Bộ; + Luật di sản văn hóa; + Luật bảo hộ quyền tác giả; + Luật điện ảnh; + Luật Báo chí; + Luật xuất bản;, + Pháp lệnh Quảng cáo, pháp lệnh Thư viện v.v.. + NĐ-CP-NĐ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực VH thông tin;. + Quyền và nghĩa vụ của những người đang giữ chức vụ trong cơ quan Nhà nước; + Quan hệ công tác, phối hợp trong cơ quan khi giải quyết công việc (quan hệ giữa người bên trong và người bên ngoài) v.v 1.3.5.3. Yếu tố môi trường: - Là các thể chế hoặc lực lượng bên ngoài có thể tác động tới hoạt động của tổ chức. + Môi trường bên trong: Điều kiện làm việc, cán bộ công chức, tiền lương, mối quan hệ giữa các cán bộ công chức trong công sở + Môi trường bên ngoài: Môi trường trong nước, môi trường Quốc tế, môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường chính trị 1.3.5.4. Yếu tố chỉ huy, cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ: 10 - Đây là yếu tố then chốt, công tác QLNN và nhân sự trong công sở như thế nào là do người chỉ huy, họ quyết định mọi vấn đề của công sở và đưa ra các mệnh lệnh hành chính có phù hợp với chức năng nhiệm vụ của công sở hay không. - Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ: Nếu cơ cấu hợp lý thì hoạt động của công sở sẽ nhịp nhàng, thuận tiện, đảm bảo thực hiện công việc tốt hơn. Chức năng nhiệm vụ là yếu tố cơ bản cho công sở, đó là điều kiện thiết yếu cho công sở thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình. Tiểu kết Chương 1 Quản lý nhà nước về văn hóa có vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng và Nhà nước. Thực chất của công tác quản lý các hoạt động văn hóa là quá trình tác động, điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước thông qua pháp luật trên tất cả các hoạt động văn hóa trong đời sống xã hội nhằm phát triển, đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân. Quản lý nhà nước về văn hóa được thực hiện thông qua ba cơ quan trong bộ máy nhà nước: cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước về văn hóa được thể hiện trong hoạt động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành các hoạt động văn hóa, được thực hiện bởi hệ thống bộ máy các cơ quan hành pháp (Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở, Phòng). Quản lý nhà nước về văn hóa thực chất là quản lý hành chính đối với văn hóa. Kết quả nghiên cứu về phương diện lý luận và thực tiễn của quản lý văn hóa ở Chương 1 là cơ sở để luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý văn hóa của huyện trong thời gian qua, làm cơ sở cho việc xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng của công tác quản lý văn hóa của huyện trong thời gian tới. Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK 2.1. Những yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa của huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk. 2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - Huyện Krông Búk là một huyện thuộc tỉnh Đắk Lắk, Việt Nam. Ngày 23 tháng 12 năm 2008 Chính phủ ra nghị định 07/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Krông Búk để thành lập thị xã Buôn Hồ và huyện Krông Búk trực thuộc tỉnh Đắk Lắk. Sau khi điều chỉnh, huyện Krông Búk có diện tích 35.867,71 ha, có 14 dân tộc anh em cùng sinh sống với số dân là 57.002 người. - Địa giới huyện Krông Búk: Phía Đông giáp huyện Krông Năng. Phía Tây giáp huyện Cư M’Gar, Ea H’Leo. Phía Nam giáp thị xã Buôn Hồ, huyện Cư M’Gar. Phía Bắc giáp huyện Ea H’Leo. - Địa hình cao nguyên núi lửa chiếm hầu hết diện tích Phía Nam, phía Đông và khu vực trung tâm huyện có mức độ phân cắt mạnh tạo thành những dãy đồi dạng bát úp, độ dốc trung bình 8-150, độ cao trung bình 500 – 700 m, địa hình có xu thế thấp dần về phía Tây và phía Nam. Địa hình núi thấp trung bình bao quanh phần phía Tây, có sườn dốc, được hình thành từ các đá granite. Địa hình đồng bằng tích tụ bao gồm các bãi bồi, các bậc thềm của các sông suối thuộc lưu vực suối Ea Tul và Krông Búk. - Nhìn chung, huyện Krông Búk, Nằm ở cửa ngõ phía Bắc của tỉnh, giáp thị xã Buôn Hồ, trên trục Quốc lộ 14, nối huyện Krông Búk với thành phố Buôn Ma Thuột, thành phố PLâyKu; cách sân bay Buôn Ma Thuột 11 khoảng 60 km, giao lưu thuận tiện với các tỉnh Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và cả nước. Đây chính là điều kiện khá thuận lợi trong quan hệ phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Tuy vậy, là huyện mới được điều chỉnh địa giới hành chính, còn nhiều xã khó khăn, huyện ít được kế thừa các cơ sở hạ tầng của huyện Krông Búk cũ, vì vậy sẽ còn nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tiếp theo. 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội: - Về kinh tế: Nông nghiệp và lâm nghiệp là các ngành kinh tế chính của Krông Búk. Các sản phẩm chủ yếu là cà phê, cao su, hồ tiêu, gỗ xẻ Là địa bàn tiếp giáp giáp thị xã Buôn Hồ, trên trục Quốc lộ 14, nối huyện Krông Búk với thành phố Buôn Ma Thuột, thành phố PlâyKu, nên thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa. Có 2 khu công nghiệp nằm trên địa bàn huyện là điều kiện thuận lợi cho huyện cung cấp nguyên, vật liệu và sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tận gốc; khu công nghiệp cũng là nơi thu hút lao động của địa phương, nhằm đạt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động sang phi nông nghiệp. Trong những năm qua đựơc sự quan tâm của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và UBND huyện, sự nỗ lực của nhân dân địa phương kinh tế - xã hội của huyện Krông Búk đã có những bước phát triển đáng kể. Các công trình phúc lợi xã hội như: Trường học, trạm y tế, chợ, đường giao thông, điện sinh hoạt đã được quan tâm đầu tư xây dựng, phục vụ nhu cầu sinh họat văn hóa, xã hội của người dân ngày một tốt hơn. Các ngành kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, tính cạnh tranh; thương mại dịch vụ đã đựơc quan tâm phát triển; đời sống của người dân từng bước đựơc cải thiện; bộ mặt nông thôn đã có sự thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì kinh tế của huyện vẫn còn những hạn chế như: hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội chưa đựơc đầu tư đồng bộ nên gây khó khăn cho việc đi lại và tổ chức sinh họat văn hóa của người dân; ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế của nước ta; các ngành thương mại, dịch vụ phát triển nhỏ lẻ, manh mún; công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm. - Về xã hội: Huyện Krông Búk Có 7 xã: Chứ Kbô, Cư Né, Cư Pơng, Ea Ngai, Ea Sin, Pơng Drang và Tân Lập, có 64 thôn và 42 buôn. Tổng số dân toàn huyện là 57.002 người, 14 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trong đó, Đồng bào DTTS là 18.521; chiếm 32.5% DS. Đồng bào dân tộc tại chỗ là 17.862; chiếm 31.3% DS. Có 4 tôn giáo chính: Công giáo, Phật giáo, Tin lành và Cao đài (tín đồ: 15.259, chiếm 23,7% dân số). Hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường tự nguyện và đúng quy định pháp luật Nhà nước. Đến nay, toàn huyện có 06 Niệm phật đường, 01 Tịnh xã, 02 Giáo họ, 03 Chi hội sinh hoạt đạo Tin lành và 20 điểm nhóm sinh hoạt tập trung. Tín độ các đạo và dân cư không theo đạo cùng chung sống hòa đồng, tạo nên một cộng đồng đoàn kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ quê hương. Những yếu tố này vừa mang tính tích cực đối với sự phát triển của huyện nhưng vừa tạo ra những khó khăn phức tạp cho hoạt động QLNN, đặc biệt là trong quản lý văn hóa trên địa bàn huyện. Huyện Krông Búk là một trong số các huyện được ưu tiên và quan tâm đặc biệt. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đặc thù nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách về đất ở, đất sản xuất, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người dân địa phương, lồng ghép các chương trình quốc gia với các dự án phát triển nông, lâm nghiệp bền vững. Tuy nhiên, đời sống người dân còn nhiều khó khăn như thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm và thu nhập thấp. 12 2.1.3. Hệ thống tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý văn hóa của huyện Krông Búk Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk được nghiên cứu dựa vào vai trò của chủ thể quản lý văn hóa là Ủy ban nhân dân huyện Krông Búk và cơ quan chuyên môn là Phòng Văn hóa và Thông tin huyện. 2.1.4. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý văn hóa huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk Phòng Văn hóa và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Krông Búk, có chức năng tham mưu giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương về lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch trên địa bàn huyện và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện và theo quy định của pháp luật. Phòng Văn hóa và Thông tin có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng để hoạt động theo quy định của pháp luật. 2.1.5. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng Văn hóa và Thông tin huyện Krông Búk - Chức năng: Phòng Văn hoá và thông tin là cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Krông Búk, đồng thời là tổ chức của hệ thống quản lý ngành từ Trung ương đến huyện. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động thuộc lĩnh vực Văn hoá và thông tin trên địa bàn huyện theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bảo đảm các hoạt động lành mạnh, chống xu hướng văn hoá thông tin và thể thao độc hại. Phòng Văn hoá và thông tin huyện dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Uỷ ban nhân dân huyện, đồng thời sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Thông tin Truyền thông và Sở Văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Đắk Lắk. - Nhiệm vụ: Thực hiện việc quản lý sát sao đối với các hoạt động văn hoá, nghệ thuật của mọi tổ chức và cá nhân. Thực hiện giáo dục truyền thống cách mạng, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá cho mọi tầng lớp nhân dân. Thực hiện quản lý bảo tồn, bảo tàng, thư viện, câu lạc bộ văn hoá, quản lý việc kinh doanh, cho thuê phim ảnh, băng từ, in ấn, sao chụp, xuất bản, phát hành, cổ động, quảng cáo... nhằm đưa các hoạt động này hoạt động theo đúng qui định của Nhà nước. - Quyền hạn: Triệu tập các cuộc họp để phổ biến, triển khai các nhiệm vụ công tác do phòng quản lý. Ký các văn bản giao dịch, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, văn bản quản lý hành chính có liên quan đến hoạt động văn hoá thông tin và Thể dục thể thao; được Uỷ ban nhân dân quận Uỷ quyền giải quyết những công việc thuộc phạm vi ngành. Kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thi hành nhiệm vụ chính trị của các tổ chức hoạt động văn hoá thông tin và thể dục thể thao trong toàn huyện. Thông qua thực tế đề xuất những vấn đề bất cập trong các hoạt động để kiến nghị Uỷ ban nhân dân quận, Sở Thông tin Truyền thông và Sở Văn hoá thể thao và du lịch tỉnh để có chủ trương, biện pháp thích hợp kể cả việc đầu tư cơ sở, vật chất cho hoạt động của ngành nhằm đạt kết quả tốt nhất. 2.1.6. Mối quan hệ công tác Sở Thông tin Truyền thông và Sở Văn hoá thể thao và du lịch tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện, các phòng, ban thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, Uỷ ban nhân dân các xã, các cá nhân và pháp nhân đến yêu cầu giải quyết công việc, Trung tâm, cơ sở văn hoá thông tin và thể dục thể thao của huyện. 2.1.7. Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk 2.1.7.1. Công tác thông tin, tuyên truyền cổ động - Ngành văn hoá và thông tin đã chủ động tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức phong phú như: Tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh, tuyên truyền trực quan bằng băng rôn, pa nô, apphích, cờ đuôi nheo, cờ Đảng, cờ Tổ quốc, cờ phướn, xe cổ động...; Năm 2017, toàn huyện đã làm mới băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền 1.252m2, panô: 1.305m2, panô tuyên truyền xe loa: 130m2; 150 lá cờ Đảng, 150 lá cờ Tổ quốc, 50 lá phướn lớn, 150 lá cờ phướn nhỏ; cờ nheo: 104m2, xe loa tuyên truyền 30 buổi phục vụ tuyên 13 truyền kịp thời tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị - xã hội của tỉnh, của huyện. Hệ thống đài phát thanh trên địa bàn huyện đã thực hiện 4.280 giờ phát thanh đảm bảo đưa lượng thông tin chính xác, kịp thời đến mọi tầng lớp nhân dân. 100% các xã qui hoạch và lắp đặt các cốc cắm cờ trên các trục đường chính trên địa bàn. 2.1.7.2. Công tác quản lý văn hoá và các dịch vụ văn hoá - Qua thống kê, rà soát, trên địa bàn huyện có: 20 hộ kinh doanh Internet, 10 hộ kinh doanh karaoke, 15 điểm photocopy (In ấn, bán sách báo), 3 cơ sở kinh doanh các dịch vụ văn hoá khác. Phối hợp với các phòng, ban ngành chức năng và các xã tổ chức ký cam kết không vi phạm quy định trong kinh doanh dịch vụ với 100% các hộ kinh doanh dịch vụ văn hoá. - Chuẩn hoá thủ tục hành chính theo Nghị định số: 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 của Chính phủ về việc Ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng. - Năm 2017, đội kiểm tra liên ngành từ huyện tới xã đã tổ chức kiểm tra 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá: Nhắc nhở 02 trường hợp, không có trường hợp nào bị xử lý nộp phạt. - Phối hợp với thanh tra Sở và các ngành chức năng của huyện rà soát, nhắc nhở các trường hợp có biển quảng cáo vi phạm, biển quảng cáo sai quy định. - Phối hợp với Uỷ ban nhân dân các xã, hướng dẫn và thực hiện xử lý biển quảng cáo tấm nhỏ, biển hiệu, băng rôn quảng cáo sai qui định, ra quân bóc, xoá quảng cáo rao vặt. Hướng dẫn các xã lên phương án xử lý các khung quảng cáo trên nóc nhà gây nguy hiểm trong mùa mưa bão. 2.1.7.3. Xây dựng đời sống văn hoá, gia đình Cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” Hướng dẫn cơ sở đăng ký xây dựng danh hiệu gia đình văn hóa; thôn, buôn văn hóa; xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa năm 2017 Hướng dẫn cho các thôn, buôn đạt thôn, buôn văn hóa lần đầu năm 2016 tổ chức đón nhận quyết định công nhận danh hiệu thôn, buôn văn hóa, trao quyết định cho các thôn, buôn đạt thôn buôn văn hóa duy trì 3 năm liền 2014-2016. - Việc cưới + Các phòng ban ngành Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể thường xuyên, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt quy ước cưới: trang trọng - lành mạnh - tiết kiệm . Động viên tặng quà lưu niệm, tổ chức tiệc trà hoặc cử cán bộ tham gia tư vấn tổ chức các đám cưới cho các đôi nam nữ theo đúng tinh thần quy ước. Toàn huyện đã có 572 đôi đăng ký kết hôn, 100% các đôi được trao giấy chứng nhận kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện (trong đó có 2 trường hợp kết hôn với người nuóc ngoài) - Việc tang + Ban chỉ đạo các phường mà nòng cốt là Hội người cao tuổi, Hội phụ nữ đã chủ động tuyên truyền, vận động các hội viên và gia đình cố gắng tổ chức việc tang theo nếp sống mới và nhận trách nhiệm đứng ra lập ban lễ tang, làm các thủ tục giúp cho gia đình các hội viên khi có việc tang. Toàn huyện có 230/230 đám tang thực hiện đúng theo quy ước (đạt 100%). + Các xã đã vận động nhân dân không để người mất quá hai mươi bốn tiếng ở trong nhà và mai táng tại các nghĩa trang theo quy định. 2.1.7.4. Công tác quản lý Văn hóa dân gian – Du lịch Huyện Krông Búk có 15 dân tộc anh em cùng chung sống, tạo nên những giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc. Với truyền thống lịch sử, đặc điểm vùng miền cư trú và đặc trưng văn hóa, phương thức canh tác đã tạo nên sự khác biệt trong văn hóa của người dân Krông Búk. Các loại hình văn hóa dân gian huyện Krông Búk không chỉ phong phú về thể loại, độc đáo về giá trị văn hóa mà còn đậm đà sắc thái văn hóa. Trong đó có thể 14 kể đến: Lễ cưới của người dân tộc M’Nông Gar; Lễ ăn cơm mới; Lễ cúng hồn lúa; Lễ bỏ mả; Lễ cúng sức khỏe; Lễ hội văn hóa cồng chiêng, nhà dài, ẩm thực, diễn tấu nhạc cụ, biểu diễn dân ca, dân vũ của người dân tộc Êđê Trong năm 2017 phòng Văn hóa và Thông tin huyện Krông Búk đã Khai mạc, bế mạc tổng kết 02 lớp truyền dạy đánh chiêng Kram tại buôn Drah 2, xã Cư Né và trường Dân tộc nội trú (cấp chứng chỉ cho 62 em hoàn thành khóa học). - Phục dựng Lễ cúng bến nước tại buôn Ea Nu, xã Pơng Drang và buôn Đrao, xã Cư Né. - Phục dựng Lễ cam Dyr tại buôn Drah, xã Cư Né. - Xây dựng và hoàn thiện đề án phát triển du lịch huyện Krông Búk. 2.1.7.5. Hoạt động Tuyên tuyền lưu động, Văn hóa văn nghệ - Năm 2017 Đội tuyên truyền lưu động, văn hóa văn nghệ Trung tâm Văn hóa -Thông tin - Thể thao huyện đã xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ tuyên truyền lưu động tại Trung tâm huyện và đi phục vụ tại các cơ sở và các thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa trên địa bàn huyện. 2.1.7.6. Hoạt động chiếu phim - Trong năm 2017: Đơn vị đã phối hợp với Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng Đắk Lắk tổ chức chiếu phim tuyên truyền các ngày lễ của đất nước và địa phương. Tổ chức (07 đêm) chiếu phim Chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2017)tuyên truyền Chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2016), 27 năm ngày Hội quốc phòng toàn dân và Tết Dương lịch năm 2017 phục vụ nhân dân trên địa bàn huyện. Mỗi đêm thu hút khoảng 350 lượt người đến xem và cổ vũ cho đêm chiếu, tình hình an ninh trật tự tại các đêm tổ chức chiếu phim diễn ra bình thường. 2.1.7.7. Câu lạc bộ - Duy trì và phát huy hoạt động của gần 10 câu lạc bộ văn hoá - thể thao tại Trung tâm Văn hoá - Thông tin - Thể thao huyện và các xã như các câu lạc bộ cầu lông, câu lạc bộ thể hình, câu lạc bộ erobic, câu lạc bộ võ thuật câu lạc bộ dưỡng sinh, câu lạc bộ chim Chào mào. Đồng thời, mở rộng các mô hình hoạt đồng của các câu lạc bộ văn hoá - thể thao tại cơ sở như: Câu lạc bộ thư pháp, câu lạc bộ khiêu vũ, câu lạc bộ bóng bàn, bóng chuyền... 2.1.7.8. Hoạt động Thư viện - Giới thiệu sách, báo, tạp chí...cho độc giả có nhu cầu mượn sách, đọc sách tại thư viện. Chuẩn bị tài liệu giới thiệu chào mừng ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam 3/2. Tiếp tục hướng dẫn thủ tục làm thẻ thư viện cho độc giả mượn sách về nhà và đọc tại chỗ. mua bổ sung các loại sách, báo, tài liệu vào Thư viện. - Hưởng ứng Ngày Sách Việt Nam (21/04) Phòng VH-TT huyện tổ chức Lễ phát động Hưởng ứng phong trào văn hóa đọc sách trên địa bàn huyện năm 2017. Năm 2017, cấp mới thẻ bạn đọc: 120 thẻ/năm; lượt bạn đọc đến thư viện: 4.000 lượt/năm, lượt sách, báo phục vụ bạn đọc: 8.300 lượt/năm. 2.1.7.9. Tập huấn nâng cao nghiệp vụ - Tổ chức 02 lớp tập huấn công tác quản lý nhà nước trong hoạt động văn hoá - thông tin trên địa bàn huyện với gần 200 học viên tham gia. Tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, nâng cao nghiệp vụ do tỉnh tổ chức như: Công tác viết bài về cuộc vận động, tập huấn nâng cao nghiệp vụ quản lý Internet và lớp tập huấn kiến thức về Chính phủ điện tử do sở Thông tin truyền thông và sở Văn hóa, thể thao và du lịch tổ chức. 2.1.7.10. Đầu tư cơ sở vật chất 15 - Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân huyện tiếp tục bổ sung một số cụm pa nô tuyên truyền nhiệm vụ chính trị-xã hội với tổng kinh phí gần 200 triệu đồng. - Đầu tư tu sửa 4 sân cầu lông thuộc Trung tâm VH-TT-TT huyện quản lý với kinh phí hơn 300 triệu đồng. Đồng thời, tiếp tục khảo sát lên phương án xây dựng Trung tâm VH-TT-TT huyện, nhà Văn hoá thiếu nhi huyện, thư viện huyện, nhà Văn hoá xã Pơng Drang. - Sửa chữa, thay thế hệ thống truyền thanh ở các xã. 2.2. Đánh giá chung - Trong những năm qua, phòng Văn hóa và Thông tin huyện Krông Búk đã từng bước kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ huyện cho đến xã. Nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ đảm nhiệm cương vị chủ chốt trong ngành. Toàn huyện đã đào tạo, bồi dưỡng hệ thống cán bộ cơ sở, cán bộ trung cấp và cán bộ cao đẳng, đại học, kiện toàn đội kiểm tra liên ngành trong hoạt động văn hoá - xã hội từ huyện tới xã để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về năng lực đội ngũ cán bộ cho ngành. Các hoạt động văn hóa ngày càng đa dạng và phong phú, liên hoan, hội thi văn hóa các dân tộc được tổ chức thường xuyên. Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động, đội tuyên truyền văn hóa, với những đầu tư trang bị cần thiết phục vụ đồng bào dân tộc. Phối hợp với sở Văn hóa, Trung tâm Phát hành phim, chiếu bóng có chương trình băng, đĩa hình, với hàng vạn bản bằng các thứ tiếng dân tộc phục vụ đồng bào. Hệ thống phát thanh truyền hình huyện và các xã đã và đang tăng thời lượng, chất lượng như phát thanh truyền hình bằng tiếng phổ thông và các thứ tiếng dân tộc, nội dung ngày càng phù hợp với nguyện vọng của đồng bào. 2.2.1. Thành tựu và hạn chế Về thành tựu - Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, công tác văn hóa trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk đã có những chuyển biến tích cực về nhận thức cũng như công tác quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Trên cơ sở các văn bản pháp quy, các đề án, dự án khả thi của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành để phát triển lĩnh vực văn hóa, UBND huyện Krông Búk nhanh chóng triển khai đến các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các tầng lớp nhân dân cùng tham gia thực hiện. Điều này đã góp phần có hiệu quả trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển các hoạt động văn hóa của tỉnh, huyện. Với nỗ lực cố gắng, tâm huyết của mỗi cán bộ, nhân viên trong ngành từ đó đã đề xuất tham mưu với lãnh đạo các cấp triển khai tổ chức thực hiện các kế hoạch công tác một cách cụ thể, thiết thực. Bởi vậy, công tác văn hoá - thể thao trên địa bàn huyện năm 2017 đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Các chương trình, kế hoạch đều được hoàn thành tốt, vượt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra. - Công tác thông tin tuyên truyền cổ động được chú trọng tạo ra những đợt hoạt động cao điểm sâu rộng gây được sự chú ý tập trung của nhiều người tạo ra được phong trào sôi nổi rộng khắp trong toàn huyện. Hoạt động thường xuyên và có trọng tâm, nên hoạt động ngày càng chất lượng, nội dung thể hiện phong phú đa dạng thu hút được sự quan tâm của quần chúng nhân dân. Công tác thông tin, tuyên truyền trực quan đã góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với mỗi người dân, tạo không khí tưng bừng phấn khởi trên địa bàn huyện. - Công tác phối hợp, tổ chức phục dựng các nghi lễ truyền thống của đồng bào dân tộc Êđê của huyện được tập trung thực hiện có hiệu quả rõ rệt góp phần bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị truyền thống của các lễ hội phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần cho nhân dân, đồng thời là tiềm năng quan trọng để phát triển du lịch. 16 - Công tác quản lý văn hoá hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá được chú trọng, các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá đã đi vào nề nếp. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường. Nghiêm túc thực hiện các Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ về chấn chỉnh các tiêu cực trong hoạt động kinh doanh quán cà phê, nhà hàng karaoke, có biện pháp xử lý cương quyết đối với hoạt động quảng cáo có hành vi vi phạm - Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được triển khai và thực hiện sâu rộng ở các khu dân cư, thôn buôn, các hộ gia đình, các cơ quan, đơn vị, trường học với mục tiêu xây dựng thôn buôn văn hoá, xã văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa một năm, hai năm và ba năm. - Công tác xã hội hoá hoạt động văn hoá thông tin được quan tâm chỉ đạo và vận động có hiệu quả, thể hiện vai trò quản lý Nhà nước, cụ thể là: Xã hội hoá trong công tác tu bổ, làm đường, trường học; Tổ chức các hoạt động văn hoá - thể thao quần chúng; qui hoạch quảng cáo, qui hoạch karaoke, xây dựng các cụm panô tuyên truyền nhiệm vụ chính trị - Xã hội trên địa bàn. - Hoạt động sự nghiệp được tăng cường và phát triển với nhiều hình thức thiết thực, hiệu quả, ngày càng nâng cao về chất lượng. Các h

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_van_hoa_tren_dia_ban_hu.pdf
Tài liệu liên quan