Chuyên đề Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu Hà Nội

Bộ máy kế toán ở công ty được tập trung ở phòng kế toán tài vụ, tuy nhiên dưới các phân xưởng vẫn có các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ thống kê, tập hợp các số liệu ghi chép ban đầu gửi về phòng kế toán tài vụ.

Bộ máy kế toán của công ty có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng đồng tiền theo chế độ tài chính hiện hành. Thông qua tình hình thu, chi, doanh thu, lợi nhuận để giám sát tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đồng thời thông qua các chỉ tiêu về các khoản mục giá thành và chỉ tiêu giá thành để giám sát tình hình tiêu lao lao động sống và lao động vật hoá, tình hình cấp phát vay mượn. Các chỉ tiêu vốn lưu động, vốn cố định.nợ phải trả, nợ phải thu để giám sát tình hình thanh toán chiếm dụng vốn của công ty. Ngoài ra bộ phận kế toán còn thực hiện chức năng phân phối lợi nhuận thành các quỹ, giám sát việc sử dụng các quỹ đó. Hàng tháng, quí, năm chuẩn bị dự thảo báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh.

Căn cứ vào nhiệm vụ, đặc điểm tổ chức quản lý, bộ máy kế toán của công ty được thực hiện như sau:

Phòng tài vụ của công ty có 8 người được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của kế toán trưởng và thực hiện như sau:

+ Kế toán trưởng: Là người điều hành phòng kế toán tài vụ với chức năng phụ trách chung toàn bộ khâu công việc của phòng. Giúp giám đốc ký kết các hợp đồng, đồng thời còn làm công tác tài sản cố định, kế toán xây dựng cơ bản kèm kế toán các nguồn vốn.

+ Phó phòng kế toán: Là người giúp đỡ kế toán trưởng trong việc điều hành công việc của phòng, đồng thời làm kế toán tập hợp chi phí sản xuất và kế toán vật liệu chính.

+ Một kế toán chi tiết giá thành sản phẩm và hạch toán kinh tế . kiêm kế toán vật liệu phụ.

+ Một kế toán tổng hợp kiêm kế toán ngân hàng.

+ Một kế toán thanh toán kiêm kế toán tiền lương

+ Một kế toán thanh toán kiêm kế toán tiền lương và BHXH

+ Một kế toán thành phẩm và tiêu thụ.

+ Một thủ quĩ kiêm kế toán vật liệu

 

docx84 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 22/06/2013 | Lượt xem: 1290 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ch thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của các loại vật tư, hàng hoá, sản phẩm mà chỉ phản ánh giá trị tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ, xác định lượng tồn kho thực tế, chưa xuất dùng cho sản phẩm kinh doanh và các mục đích khác. Phương pháp này chỉ thích hợp với các đơn vị điều kiện những chủng loại hàng hoá vật tư khác nhau, giá trị thấp, thường xuyên xuất dùng xuất bán. 2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu: Do đặc điểm của phương pháp kiểm kê định kỳ nên chi phí vật liệu xuất dùng rất khó phân định được là xuất cho mục đích sản xuất, quản lý và tiêu thụ sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, kế toán cần theo dõi chi tiết chi phí vật liệu phát sinh liên quan đến từng đối tượng (phân xưởng, bộ phận sản xuất, sản phẩm…) Để phản ánh chi phí vật liệu trực tiếp xuất dùng cho sản xuất kế toán sử dụng TK 621 "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp". Chi phí nguyên vật liệu được phản ánh trên TK 621 không ghi theo từng chứng từ xuất dùng nguyên vật liệu mà được ghi một lần vào cuối kỳ hạch toán, sau khi tiến hành kiểm kê và xác định giá trị nguyên vật liệu tồn kho và đang đi đường. Nội dung phản ánh của TK 621 như sau: Bên nợ: Giá trị vật liệu đã xuất dùng trực tiếp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Bên có: Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu vào giá thành sản phẩm. TK 621 cuối kỳ không có số dư và được mở theo từng đối tượng hạch toán chi phí. Bên cạnh đó kế toán sử dụng TK 611 "Mua hàng" để theo dõi và xác định chi phí vật liệu, dụng cụ thu mua và xuất dùng. Bên nợ: Phản ánh giá thực tế nguyên vật liệu, dụng cụ, công cụ..tồn đầu kỳ, mua vào trong kỳ. Bên có: Phản ánh giá thực tế vật liệu, dụng cụ, hàng hoá xuất dùng, xuất bán… trong kỳ và tồn cuối kỳ. TK 611: Cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành 2 tiểu khoản. 6111: Mua nguyên liệu, vật liệu. 6112: Mua hàng hoá. Đối với các tài khoản phản ánh hàng tồn kho (151,152,153…) kế toán sử dụng ở đầu kỳ (để kết chuyển số dư đầu kỳ) và cuối kỳ kế toán (để phản ánh giá trị tồn kho thực tế cuối kỳ). Cụ thể các tài khoản hàng tồn kho có kết cấu chung như sau: Bên nợ: Giá thực tế hàng tồn kho cuối kỳ. Bên có: Kết chuyển giá thực tế hàng tồn kho đầu kỳ. Dư nợ: Giá thực tế hàng tồn kho. Phương pháp hạch toán cụ thể như sau: - Đầu kỳ, kết chuyển giá trị hàng tồn kho. Nợ TK 611 (6111): Giá trị hàng tồn kho đầu kỳ Có TK 152: Nguyên vật liệu tồn kho. Có TK 151: Hàng đi đường (vật liệu đi đường) - Trong kỳ, căn cứ vào các hoá đơn mua hàng và các chứng từ khác phản ánh vật liệu tăng trong kỳ. Nợ TK 611 (6111): Giá trị hàng hoá mua vào Nợ TK 133 Có TK 111,112,331,411,311… - Giá trị hàng mua không bảo đảm trả lại cho người bán hoặc người bán giảm giá và số chiết khấu hàng mua được hưởng (nếu có) Nợ TK 331,111,112. Có TK 611 (6111): Giá trị hàng trả lại, được giảm giá, chiết khấu Có TK 133. Cuối kỳ căn cứ vào biên bản kiểm kê vật liệu tồn kho và biên bản xử lý số mất mát, thiếu hụt. + Phản ánh số thiếu hụt, mất mát. Nợ TK 138, 334: Số cá nhân phải bồi thường. Nợ TK 1381: Số thiếu hụt chờ xử lý. Nợ TK 642: Số thiếu hụt trong định mức. Có TK 611 (6111): Hàng tồn kho cuối kỳ. - Phản ánh số vật liệu còn lại chưa sử dụng. Nợ TK 151: Giá trị vật liệu đã mua đang đi đường. Nợ TK 133: Nợ TK 152: Giá trị vật liệu tồn kho chưa sử dụng Có TK 611 (6111): Giá trị vật liệu chưa sử dụng + Giá trị nguyên vật liệu tính vào chi phí sản xuất được xác định bằng cách lấy tổng số phát sinh bên Nợ TK 611 trừ đi số phát sinh có (bao gồm số tồn cuối kỳ, số mất mát, số trả lại, chiết khấu mua hàng, giảm giá hàng mua…) rồi phân bổ cho các đối tượng sử dụng Nợ TK 621, 627, 641, 642. Có TK 611 (6111): Giá trị NVL xuất dùng + Cuối kỳ kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu vào giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Nợ TK 631 (Chi tiết theo từng đối tượng) Có TK 621 (Chi tiết theo từng đối tượng) Việc hạch toán công cụ dụng cụ nhỏ cũng được tiến hành tương tự như đối với vật liệu. Trường hợp công cụ, dụng cụ xuất dùng trong kỳ nếu xét thấy giá trị lớn, cần trừ dần vào chi phí nhiều kỳ (Qua kiểm kê lượng đã xuất dùng, đang sử dụng) ghi: Nợ TK 142 (1421) Có TK 611 (6111) Căn cứ vào số lần phân bổ, xác định mức chi phí công cụ trừ dần vào từng kỳ: Nợ TK 627, 641, 642. Có TK 1421. 2.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Về chi phí nhân công trực tiếp, cách tập hợp chi phí trong kỳ giống như phương pháp kê khai thường xuyên. Cuối kỳ, để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ, kế toán tiến hành kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào TK 631 theo từng đối tượng bằng bút toán.. Nợ TK 631 Có TK 622: Tổng CP NC trực tiếp 2.3. Hạch toán chi phí sản xuất chung Toàn bộ chi phí sản xuất chung được tập hợp vào TK 627 và được chi tiết theo các tiểu khoản tương ứng và tương tự với doanh nghiệp áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên. Sau đó sẽ được phân bổ vào TK 631, chi tiết theo từng sản phẩm, lao vụ để tính giá thành. Nợ TK 631 Có TK 627 2.4. Tổng hợp chi phí sản xuất, kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang Để phục vụ cho việc tổng hợp chi phí sản xuất là tính giá thành sản phẩm, kế toán sử dụng TK 631 "Giá thành sản phẩm" TK này được hạch toán chi tiết theo từng địa điểm phát sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất…) và theo loại, nhóm sản phẩm chi tiết sản phẩm, lao vụ, dịch vụ… của cả bộ phận SXKDC, SXKDP, chi phí thuê ngoài gia công, chế biến… Nội dung phản ánh của TK 631. Bên Nợ: Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ liên quan tới chế tạo sản phẩm Bên Có: - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ. - Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. TK 631 cuối kỳ không có số dư. * Cách thức hạch toán cụ thể như sau: - Đầu kỳ, kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang vào giá thành từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ ghi: Nợ TK 631 Có TK 154 - Cuối kỳ kết chuyển các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ vào giá thành từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ… Nợ TK 631: Tổng chi phí sản xuất Có TK 621: Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp Có TK 622: Kế chuyển chi phí nhân công trực tiếp Có TK 627: Kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí sản xuất chung - Cuối kỳ căn cứ vào kết quả kiểm kê và đánh giá sản phẩm dở dang. Nợ TK 154 Có TK 631 - Tổng giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành. Nợ TK 632 Có TK 631 Sơ đồ 2: Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm TK 621 TK 631 154 Chi phớ NVL trực tiếp TK 622 Chi phớ NC trực tiếp TK 622 Chi phớ SX chung Giỏ trị SP dở dang cuối kỳ 632 Tổng giỏ thành sản xuất của sản phẩm dịch vụ hoàn thành Về việc kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cũng được tiến hành tương tự như phương pháp kê khai thường xuyên. Phần II. CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DỤNG CỤ CƠ KHÍ XUẤT KHẨU I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CÔNG TY: 1. Công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu Hà Nội Tên giao dịch quốc tế: Export mechanical tool stock Company Viết tắt: EMIC Trụ sở: 229 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội 2. Công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu là một doanh nghiệp có quy mô lớn với lịch sử phát triển tương đối dài. - Công ty được thành lập năm 1960 với quy mô nhỏ và có tên gọi là "Xưởng Y cụ" thuộc Bộ y tế quản lý. Nhiệm vụ của xưởng là sản xuất kẹp y tế thô sơ, dụng cụ y tế và một số thiết bị cho các xí nghiệp dược phẩm. - Năm 1962: Bộ Y tế quyết định sáp nhập Xưởng Y cụ và xưởng chân tay giả thành Xí nghiệp y cụ và chân tay giả. - Năm 1964: Xí nghiệp được đổi tên thành nhà máy Y cụ, chuyên sản xuất dụng cụ y tế, thiết bị bệnh viện, thiết bị dược phẩm và sửa chữa y tế. - Năm 1971: Nhà máy y cụ được chuyển sang Bộ Cơ khí và luyện kim quản lý. Thời gian này, quy mô nhà máy được mở rộng về cả số lượng lao động và máy móc thiết bị, giá trị sản lượng tăng gấp 3 lần năm 1964. - Năm 1976: Ngoài nhiệm vụ phục vụ cho Bộ y tế, nhà máy chuyển hướng sản xuất sang các dụng cụ cơ khí cầm tay như kìm, cờ lê, mỏ lết... Đến năm1977, nhà máy bắt đầu xuất khẩu sản phẩm sang các nước Đông Âu: Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan... với giá trị xuất khẩu chiếm 8,9% tổng sản lượng. Ngày 01/1/1985, nhà máy được đổi tên là Nhà máy Dụng cụ cơ khí xuất khẩu. Đến năm1986, giá trị xuất khẩu tăng nhanh chiếm 70% tổng sản lượng, sản phẩm của nhà máy ngày càng có uy tín hơn. Từ năm1990 trở lại đây, do hệ thống XHCN ở Đông âu sụp đổ, nhà máy bị mất thị trường xuất khẩu chủ yếu và nền kinh tế nước ta lại đang chuyển sang cơ chế thị trường nên cũng như đa số các DNNN khác, nhà máy gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường để giải quyết công ăn việc làm cho hơn 1000 lao động, khó khăn trong sản xuất do thiết bị công nghệ lạc hậu, vốn đầu tư trang thiết bị thiếu... Đứng trước vấn đề sống còn Nhà máy đã chủ động tìm cho mình một hướng đi mới là tìm kiếm thị trường ở các nước thứ ba và tìm kiếm nguồn hàng hợp tác xuất khẩu sang các nước Đài Loan, Hàn Quốc... Một mặt Nhà nước vẫn duy trì sản xuất các mặt hàng truyền thống như các sản phẩm dụng cụ cầm tay: clê, mỏ lết, kìm điện... mặt khác nhà máy liên doanh với các công ty của Nhật, Đài Loan sản xuất hàng gia dụng bằng thếp không gỉ (INOX). - Ngày1/1/1996 nhà máy đổi tên thành công ty dụng cụ cơ khí xuất khẩu, được phép chủ động mua bán XNK trực tiếp với nước ngoài thời gian này, công ty có thêm các mặt hàng mới như các bộ dụng cụ, phụ tùng xe máy, ô tô. - Thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của công ty và để hoà nhập với thị trường thế giới, công ty đã liên doanh liên kết với các đối tác nước ngoài như: sản phẩm linh kiện xe Honda lắp ráp xe máy Super Dream, nhận gia công các sản phẩm chi tiết trong cấu tạo xe máy: cần số, cần khởi động... cho hãng VMEP. Liên doanh với Nhật Bản thành lập công ty sửa chữa và bảo hành xe máy Honda... - Lúc này, các sản phẩm xuất khẩu của công ty chủ yếu là đề gia dụng bằng TNOX và các thiết bị, phụ tùng cơ khí đạt chất lượng cao. - Ngoài ra, công ty còn sản xuất kinh doanh sản phẩm ngoài cơ khí như: sản xuất bia với dây chuyền thiết bị nhập từ CHLB Đức, tận dụng vị trí mặt bằng cho các cơ quan trong và ngoài nước thuê. - Ngày 01/01/2001, theo QĐ số 62/2000/QĐ-BCN, công ty dụng cụ cơ khí xuất khẩu thực hiện cổ phần hoá 100% với tên gọi mới là: Công ty cổ phần dụng cụ cơ khí xuất khẩu. Đây là một chuyển biến lớn trong đời sống lao động sản xuất của công ty và phù hợp với xu thế mới; với việc cổ phần hoá, công ty có khả năng thu hút được vốn đầu tư lớn hơn và có sự độc lập tuyệt đối trong sản xuất kinh doanh. Cổ đông của công ty chủ yếu là các cán bộ công nhân viên trong công ty. Hiện nay, công ty vẫn tiếp tục sản xuất kinh doanh các mặt hàng truyền thống, đồng thời công ty cũng tiếp tục nghiên cứu, sáng tạo nhằm năng cao hiệu quả sản xuất, sử dụng tiết kiệm vật liệu giảm giá thành sản phẩm, cũng như tìm kiếm thêm các thị trường mới và các quan hệ đối tác mới để phát huy tối đa năng lực sản xuất. Trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Công ty đã ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường. Nguồn vốn, tài sản và danh thu tăng nhanh, nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước. Bảng 1: Một số chỉ tiêu, kinh doanh hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty (Đơn vị: ngàn đồng) Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 KH 2001 I. Tài sản 1. TSLĐ + ĐTNH 9.237.019 9.572.631 11.000.000 2. TSCĐ + ĐTNH 6.800.324 7.004.632 7.500.000 II. KQKD 1. Doanh thu 27.583.199 28.997.048 32.000.000 2. Lợi nhuận 764.895 831.671 1.000.000 III. Số lao động 1.200 1.375. 1.500 IV. Thu nhập bình quân 812 908 1.100 V. Nộp ngân sách 1.241.444 1.304.967 1.580.000 II. Mô hình tổ chức quản lý của công ty cổ phần Dụng cụ Cơ khí xuất khẩu: Công ty cổ phần Dụng cụ Cơ khí xuất khẩu có mô hình tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến. II.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các bộ phận của công ty: Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao gồm khoảng 600 thành viên. Có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát, xem xét, xử lý các vi phạm của hội đồng quản trị và ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty, quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần và sửa đổi bổ sung điều lệ công ty, thông qua các báo cáo tài chính hàng năm, mỗi năm triệu tập họp 2 lần. Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty. Có nhiệm vụ quyết định chiến lược phát triển, phương án đầu tư, tổ chức của công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc và các cán bộ quản lý quan trọng khác, gồm 11 thành viên. Ban kiểm soát: Gồm 3 thành viên, do hội đồng quản trị cử tra, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của hội đồng quản trị. Có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra việc thực hiện các phương hướng chính sách của các bộ phận mà ĐHĐCĐ và HĐQTT đề ra và báo cáo cho HĐQT. Giám đốc công ty: Là người chịu trách nhiệm điều hành chung toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Trực tiếp chỉ đạo phòng kế toán tài vụ, phòng tổ chức bảo vệ, phòng kế hoạch vật tư. Chịu trách nhiệm trước đại hội đồng cổ đông và hội đồng quản trị về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, duyệt kí phiếu thu từ 5.000.000 đồng trở lên. Phó giám đốc kinh doanh: Trực tiếp phụ trách, quản lý và chịu trách nhiệm về tình hình tiêu thụ sản phẩm và toàn bộ công việc kinh doanh của công ty. Được giám đốc uỷ quyền kí phiếu thu dưới 5.000.000 đồng và kí các phiếu xuất vật tư, hàng hoá đem bán. Phó giám đốc kỹ thuật: Trực tiếp phụ trách công tác kỹ thuật sản xuất của công ty, chỉ đạo sản xuất và an toàn lao động, phụ trách công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm, vật tư hàng hoá nhập kho. Được giám đốc uỷ quyền kí toàn bộ các phiếu nhập, xuất vật tư hàng hoá sản phẩm. Phòng tổ chức lao động - bảo vệ: Có trách nhiệm bảo vệ tài sản của công ty, quản lý lao động và phân bổ lao động theo yêu cầu sản xuất. Tổ chức huấn luyện, đào tạo chuyên môn kỹ thuật, an toàn, thi nâng bậc công nhân và bảo hộ lao động. Phòng kế toán - tài vụ: Là nơi cung cấp số liệu chủ yếu để giúp lãnh đạo công ty phân tích tình hình hoạt động sản xuất của công ty. Có trách nhiệm: + Mở sổ sách kế toán, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh một cách đầy đủ vào các sổ kế toán chi tiết, tổng hợp. + Đảm bảo nguồn vốn lưu động phục vụ cho kế hoạch sản xuất và các kế hoạch khác của công ty. + Hạch toán trả lương cho công nhân, trích nộp bảo hiểm, kinh phí công đoàn cho cấp trên. + Theo dõi quản lý chặt chẽ tài sản cố định, trích khấu hao hàng tháng. + Hàng quí tiến hành lập báo cáo tài chính, báo cáo kế toán. Thực hiện hạch toán kinh doanh và thanh quyết toán về tài chính. Phòng kế hoạch vật tư: Quản lý kho tàng bến bãi, theo dõi tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để đưa ra kế hoạch kịp thời, sát với thực tế. Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ thiết kế, hoàn thiện qui trình công nghệ sản phẩm. Theo dõi, chế thử sản phẩm mới, cải tiến mẫu mã sản phẩm, xây dựng định mức tiêu hao vật tư. Thiết kế thiết bị phục vụ gia công sản phẩm, quản lý tài liệu kỹ thuật, hồ sơ bản vẽ. Phòng cơ điện: Có nhiệm vụ theo dõi tình hình lắp đặt, sử dụng và bảo quản trang thiết bị trong toàn công ty. Lập kế hoạch sửa chữa máy móc thiết bị của công ty. Quản lý toàn bộ mạng lưới điện của công ty. Phòng hành chính - y tế: Có nhiệm vụ tiếp khách, quan hệ công tác theo dõi, quản lý, phát hành văn bản công văn, cấp phát văn phòng phẩm, quản lý con dấu của công ty. Chăm lo sức khoẻ, tổ chức khám, kiểm tra sức khoẻ định kỳ hàng tháng cho cán bộ công nhân viên. Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ mua bán nguyên vật liệu, xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, thực hiện công tác Marketing. Phòng KCS: Quản lý, kiểm tra chất lượng sản phẩm, vật tư qua từng khâu theo tiêu chuẩn của công ty. Trung tâm dịch vụ sửa chữa HONDA: Là liên doanh của công ty với hãng xe HONDA của Nhật Bản, chuyên sửa chữa bảo hành các loại xe máy Nhật, buôn bán xe và phụ tùng xe gắn máy. Phân xưởng bia: Chuyên sản xuất bia hơi, là đơn vị hạch toán độc lập, tự sản xuất, tiêu thụ và trả lương cho công nhân viên. Hàng tháng trích nộp lên công ty một tỉ lệ phần trăm nhất định. Phân xưởng cơ khí 1: Chuyên sản xuất kìm điện 180, 160, kìm KB 30, đùi đĩa xe đạp, phụ tùng xe máy các loại. Phân xưởng cơ khí 2: Sản xuất mỏ lết các loại, phụ tùng xe máy, đồ gia dụng bằng INOX. Phân xưởng cơ khí 3: Sản xuất kìm điện 160,180, quản lý các thiết bị nhiệt luyện có tần số cao. Phân xưởng cơ khí 4: Gia công thìa dĩa INOX cho Nhật Bản Phân xưởng rèn dập: Tạo phôi cho các phân xưởng cơ khí, quản lý hệ thống cung cấp khí nén và các thiết bị đột dập. Phân xưởng mạ: Trang trí bề mặt sản phẩm bằng các phương pháp điện hoá học. Phân xưởng dụng cụ: Sản xuất các loại các loại dao cắt gọn cho ngành cơ khí, khuôn mẫu các loại quản lý khu vực nhiệt luyện bằng lò điện tử. Phân xưởng cơ diện: Thực hiện lắp đặt, chạy thử các thiết bị mới, đảm bảo công tác sửa chữa máy móc thiết bị công cụ của công ty. Bộ phận kiến thiết cơ bản: Xây dựng cơ bản, sửa chữa các nhà xưởng. SƠ ĐỒ 1: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY: éại hội đồng cổ đụng Ban kiểm soỏt Hội đồng quản trị Giỏm đốc Phũng Kế toỏn tài vụ vụ PGĐ Kinh doanh PGĐ Kỹ thuật Phũng kinh doanh TT DV sửa chữa xe mỏy Phòng Tổ chức lao động Phòng Cơ điện Phòng kỹ thuật Phòng KCS Phũng Hành chớnh Y tế Phõn xưởng bia Phòng Kế hoạch vật tư Đội XD CB PX cơ điện PX DC PX Mạ PX Rèn dập PX Cơ khớ 4 PX Cơ khớ 3 PX Cơ khớ 2 PX Cơ khí 1 II.2. Tổ chức công tác hạch toán và hình thức kế toán áp dụng tại công ty: 1. Tổ chức bộ máy kế toán Bộ máy kế toán ở công ty được tập trung ở phòng kế toán tài vụ, tuy nhiên dưới các phân xưởng vẫn có các nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ thống kê, tập hợp các số liệu ghi chép ban đầu gửi về phòng kế toán tài vụ. Bộ máy kế toán của công ty có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc sử dụng đồng tiền theo chế độ tài chính hiện hành. Thông qua tình hình thu, chi, doanh thu, lợi nhuận để giám sát tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời thông qua các chỉ tiêu về các khoản mục giá thành và chỉ tiêu giá thành để giám sát tình hình tiêu lao lao động sống và lao động vật hoá, tình hình cấp phát vay mượn. Các chỉ tiêu vốn lưu động, vốn cố định...nợ phải trả, nợ phải thu để giám sát tình hình thanh toán chiếm dụng vốn của công ty. Ngoài ra bộ phận kế toán còn thực hiện chức năng phân phối lợi nhuận thành các quỹ, giám sát việc sử dụng các quỹ đó. Hàng tháng, quí, năm chuẩn bị dự thảo báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào nhiệm vụ, đặc điểm tổ chức quản lý, bộ máy kế toán của công ty được thực hiện như sau: Phòng tài vụ của công ty có 8 người được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của kế toán trưởng và thực hiện như sau: + Kế toán trưởng: Là người điều hành phòng kế toán tài vụ với chức năng phụ trách chung toàn bộ khâu công việc của phòng. Giúp giám đốc ký kết các hợp đồng, đồng thời còn làm công tác tài sản cố định, kế toán xây dựng cơ bản kèm kế toán các nguồn vốn. + Phó phòng kế toán: Là người giúp đỡ kế toán trưởng trong việc điều hành công việc của phòng, đồng thời làm kế toán tập hợp chi phí sản xuất và kế toán vật liệu chính. + Một kế toán chi tiết giá thành sản phẩm và hạch toán kinh tế .... kiêm kế toán vật liệu phụ. + Một kế toán tổng hợp kiêm kế toán ngân hàng. + Một kế toán thanh toán kiêm kế toán tiền lương + Một kế toán thanh toán kiêm kế toán tiền lương và BHXH + Một kế toán thành phẩm và tiêu thụ. + Một thủ quĩ kiêm kế toán vật liệu Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy kế toán công ty Kế toán trưởng Phó phòng kế toán Thủ quỹ Kế toỏn chi tiết giỏ thành Kế toán vật liệu Kế toán thành phẩm và tiêu thụ Kế toỏn thanh toỏn và tiền lương, BHXH Kế toỏn tổng hợp và ngõn hàng Kế toán tài sản cố định 2. Hình thức kế toán đang áp dụng tại công ty: Do qui mô của công ty là sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau, nên việc hạch toán của công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật kí chứng từ và việc tập hợp chi phí sản xuất được sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên. Đây là hình thức kế toán tương đối phức tạp đòi hỏi cán bộ kế toán phải có trình độ tương đối vưngx mới phản ánh được đầy đủ, chính xác sự biến động của các yếu tố trong các quá trình kinh doanh của công ty. Công ty đã thực hiện khá đầy đủ trình tự hạch toán theo hình thức kế toán Nhật kí chứng từ, dùng phương pháp tổng hợp số liệu vào sổ cái các chứng từ gốc qua một hệ thống các sổ trung gian như các bảng kê, các bảng phân bổ, sổ chi tiết. Hàng tháng phòng kế toán lên Nhật kí chứng từ để hạch toán, tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm và đánh giá sản phẩm dở dang cuối kì theo từng công đoạn sản xuất. Sơ đồ 3: Trình tự hạch toán theo hình thức Nhật kí chứng từ Chứng từ gốc và các bảng phân bổ Thẻ vào sổ kế toỏn chi tiết Bảng kê Nhật kí chứng từ Sổ cái Bảng tổng hợp chi tiết Báo cáo tài chính Ghi chú: Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Quan hệ đối chiếu, kiểm tra Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc và các bảng phân bổ để ghi vào nhật kí chứng từ. + Đối với những đối tượng cần theo dõi chi tiết thì chứng từ gốc ghi vào các bảng kê + Nếu chứng từ gốc liên quan đến sổ hạch toán chi tiết thì ghi vào thẻ hoặc sổ hạch toán chi tiết Cuối tháng cộng bảng kê lấy số liệu ghi vào nhật kí chứng từ có liên quan. Cộng nhật kí chứng từ để ghi vào sổ cái. Cộng thẻ và sổ hạch toán chi tiết để lập bảng tổng hợp chi tiết. Sau đó lập báo cáo tài chính. Hình thức kế toán này đảm bảo công tác kế toán được vận hành trôi chảy, phản ánh chính xác tình hình biến động của các yếu tố và quá trình sản xuất kinh doanh phục vụ kịp thời yêu cầu thông tin của lãnh dạo củng cố nền nếp làm việc của bộ phận kế toán và các đơn vị khác trong công ty, thúc đẩy phát triển sản xuất. III. TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY DỤNG CỤ CƠ KHÍ XUẤT KHẨU HÀ NỘI. 1. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất: 1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất. Là một công ty sản xuất nhiều mặt hàng, sản phẩm với qui trình công nghệ phức tạp, mỗi sản phẩm trải qua nhiều khâu chế biến và sản phẩm được hoàn thành ở khâu cuối cùng, sau đó tiến hành nhập kho thành phẩm, do vậy, để phù hợp với yêu cầu quản lý của Công ty, kế toán chi phí đã xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng phân xưởng (chi tiết cho từng loại sản phẩm) đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Còn đối với chi phí sản xuất chung thì kế toán tập hợp toàn phân xưởng, sau đó phân bổ cho từng loại sản phẩm theo tiêu thức phù hợp. Chi phí sản xuất ở công ty dụng cụ Cơ khí Xuất khẩu Hà Nội được chia thành: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. - Chi phí nhân công trực tiếp. - Chi phí sản xuất chung. Và các phân xưởng ở Công ty được chia thành 3 nhóm gồm: - Phân xưởng Rèn dập - Phân xưởng Cơ khí. - Phân xưởng Dụng cụ - gia công. Công ty thực hiện kế toán hàng tồn kho và tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên 1.2. Kế toán Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Nguyên vật liệu trực tiếp của Công ty có nhiều loại, mỗi loại có tính năng, công dụng khác nhau trong sản xuất và chế tạo sản phẩm. Bao gồm: - Vật liệu chính: sắt, thép, Inox, đồng, dương cực Nicken. - Vật liệu phù: dầu, mỡ, sơn, đinh, sút, cao xanh… - Phụ tùng thay thế: các loại vòng bi, bánh răng… - Phế liệu thu hồi: sản phẩm hỏng, sắt, thép, vụn… Tùy theo từng loại sản phẩm mà tỷ trọng từng loại nguyên vật liệu trong sản phẩm có sự thay đổi nhưng thông thường chi phí vật liệu chính chiếm 70 – 80% chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Kế toán Công ty sử dụng tài khoản 621 để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản 621 được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 như sau: 621.1: Phân xưởng Rèn dập. 621.2: Phân xưởng cơ khí. 621.3: Phân xưởng dụng cụ - gia công. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho từng loại sản phẩm, nếu không được thì theo dõi chung trên TK 621 của Phân xưởng, sau đó phân bổ cho mỗi loại sản phẩm theo tiêu thức thích hợp. Công ty quản lý chi phí nguyên vật liệu trực tiếp theo hệ thống chi phí định mức cho từng loại sản phẩm cụ thể, do vậy kế toán sử dụng giá hạch toán để hạch toán nguyên vật liệu. Tất cả các nguyên vật liệu mua về đều phải nhập kho của công ty, sau đó tùy vào yêu cầu, mục đích chế tạo sản phẩm của các phân xưởng mà được xuất giao cho các phân xưởng sản xuất. Việc xuất kho vật tư tuân theo trình tự sau: + Căn cứ vào kế hoạch sản xuất và mức tiêu hao vật liệu cho từng loại sản phẩm của phòng kỹ thuật đưa xuống, phòng kế hoạch vật tư duyệt và viết phiếu xuất vật tư cho các phân xưởng, nguyên vật liệu dùng để sản xuất sản phẩm nào được ghi trực tiếp cho sản phẩm đó. Sau khi xem xét tính hợp lý, hợp lệ của phiếu, thủ kho tiến hành xuất vật tư cho phân xưởng. Thủ kho căn cứa vào yêu cầu đã xác định và số liệu NVL thực tế đã xuất ghi vào cột “ Thực xuất”, đồng thời tính giá NVL xuất kho theo giá FIFO (Nhập trước xuất trước). Phụ biểu 1: Phiếu xuất kho. Phụ biểu số 1 Đơn vị……. PHIẾU XUẤT KHO Ngày 5 tháng 2 năm 2002 Nợ 621 Có 1521 Mẫu 02 - VT

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxHoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần dụng cụ Cơ khí Xuất khẩu Hà Nội.docx
Tài liệu liên quan