Chuyên đề Hoàn thiện nghiệp vụ kế toán trích lập quỹ dự phòng rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ dự phòng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa

MỤC LỤC:

LỜI MỞ ĐẦU 8

Phần A: MỞ ĐẦU 10

CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ. 10

1. Lí do chọn đề tài. 10

2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu. 11

2.1. Mục tiêu nghiên cứu. 11

2.2. Đối tượng nghiên cứu. 11

2.3. Phạm vi nghiên cứu. 11

2.4. Phương pháp nghiên cứu. 11

2.5. Tóm tắt nội dung, bố cục của đề tài. 12

Phần B: NỘI DUNG 13

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN TRÍCH LẬP QUỸ DỰ PHÒNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM. 13

1. Cơ sở lí luận. 13

1.1. Dự phòng rủi ro trong hoạt động của NHTM. 13

1.1.1 Rủi ro - nhân tố tất yếu trong hoạt động của NHTM. 13

1.1.2 Rủi ro trong hoạt động của NHTM. 14

2. Nghiệp vụ kế toán trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động của NHTM. 14

2.1 Một số quy định chung. 14

2.2 Tài khoản sử dụng trong nghiệp vụ kế toán trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của NHTM. 15

3. Nghiệp vụ kế toán sử dụng dự phòng rủi ro của NHTM. 17

3.1 Điều kiện sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro. 17

3.2 Phương pháp hạch toán: 18

4. Những nhận định về kế toán trích lập quỹ dự phòng rủi ro. 19

4.1 Tác phẩm thứ nhất: 20

4.1.1. Nội dung liên quan đề tài. 20

4.1.2 Những đóng góp của đề tài. 20

4.1.3 Những hạn chế của đề tài. 20

4.2 Tác phẩm thứ hai. 20

4.2.1 Nội dung của đề tài 20

4.2.2 Những đóng góp của đề tài. 20

4.2.3 Những hạn chế của đề tài. 20

4.3 Tác phẩm thứ ba. 21

4.3.1 Nội dung của đề tài 21

4.3.2 Những đóng góp của đề tài. 21

4.3.3 Những hạn chế của đề tài. 21

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 22

1. Phương pháp định tính. 22

2. Phương pháp định lượng. 22

2.1. Phương pháp thu thập thông tin. 22

2.2. Phương pháp thu thập số liệu thực tế. 22

2.3 Phương pháp trực quan. 22

2.4 Phương pháp lí luận. 22

3. Đánh giá về nội dung. 22

3.1. Mở rộng nghiệp vụ trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro. 22

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro. 25

CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN TRÍCH LẬP QUỸ DỰ PHÒNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT THỌ XUÂN. 26

1. Khái quát về chi nhanh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân 26

1.1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 26

1.2. Mô hình tổ chức của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 27

1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 29

2. Thực trạng nghiệp vụ kế toán trích lập qũy dự phòng rủi ro tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 30

2.1. Tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 30

2.2. Sự cần thiết của dự phòng rủi ro trong hoạt dộng của chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 31

2.3. Tài khoản sử dụng trong việc trích lập dự phòng rủi ro tại ngân hàng. 33

2.4. Quy trình thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tại ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 34

2.5. Thực trạng nghiệp vụ kế toán trích lập dự phòng rủi ro tại ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 35

2.5.1 Các căn cứ để trích lập. 35

2.5.2 Phương pháp hạch toán trích lập dự phòng rủi ro: 36

2.6. Thực trạng nghiệp vụ kế toán sử dụng dự phòng rủi ro. 37

2.6.1 Các quy định về sử dụng dự phòng để xủ lý rủi ro đối với chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 37

2.6.2 Phương pháp hạch toán sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro. 38

3. Đánh giá về nghiệp vụ kế toán trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 39

3.1. Những kết quả đạt được. 39

3.2. Những vướng mắc còn tồn tại. 40

4. Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ kế toán trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng. 42

4.1. Hoàn thiện căn cứ trích lập dự phòng rủi ro. 42

4.2. Nâng cao nhận thức của ban lãnh đạo ngân hàng. 44

4.3. Nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng. 45

Phần C: KẾT LUẬN 46

CHƯƠNG V: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN. 46

1. Kết luận. 46

2. Nhận xét về đề tài và các định hướng của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân trong thời gian tới. 47

1.1. Ý nghĩa của đề tài. 47

2.2. Các định hướng tương lai của đơn vị trong thời gian tới. 47

2.2.1. Tăng cường tính chủ động trong sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro. 48

2.2.2 Tăng cường sự hỗ trợ của kiểm toán và thanh tra ngân hàng. 49

3. Một số kiến nghị. 50

3.1. Kiến nghị đối với ngân hàng No&PTNT Việt Nam. 50

3.2. Kiến nghị đối với ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 50

Danh mục tham khảo: 52

 

 

doc50 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 24/07/2013 | Lượt xem: 360 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Chuyên đề Hoàn thiện nghiệp vụ kế toán trích lập quỹ dự phòng rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ dự phòng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dự phòng. Tôi đã ghi chép, thu thập và xử lý số liệu thu thập được tại ngân hàng No&PTNT chi nhánh Huyện Thọ Xuân-Thanh Hóa va so sánh với phương thức trích lập dự phòng của ngân hàng No&PTNT Việt Nam để làm cơ sở đánh giá giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ kế toán trích lập quỹ dự phòng rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ dự phòng tại chi nhánh đã thực sự có hiệu quả hay chưa. Bảng 1: Hoạt động kinh doanh về nghiệp vụ kế toán trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Đơn vị tính: triệu đồng. Năm Chỉ tiêu 2008 2009 2010 Trích dự phòng rủi ro 39564 57232 69387 Tổng số Lũy kế 47835 86729 103908 (Nguồn: Báo cáo về trích lập dự phòng của phòng kinh doanh) Bảng 2: Tình hình thu nhập và chi phí của ngân hàng một số năm Đơn vị tính: triệu đồng. Năm Chỉ tiêu 2008 2009 2010 Tổng thu nhập 24980 54845 59543 Tổng chi phí 7908 10215 11765 Chênh lệch 17072 44630 47778 (Nguồn: Báo cáo của phòng kế toán ngân quỹ ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân ) 2.3 Phương pháp trực quan. Trong thời gian thực tập tại ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân, tôi nhận thấy công việc của một nhân viên ngân hàng thực thụ-Nghiệp vụ kế toán trích lập dự phòng rất cần kinh nghiệm thực tiễn, đảm bảo chắc chắn trong công tác kế toán và quy trình nghiệp vụ. Đồng thời trong thời gian làm việc cần có sự nhanh nhẹn và có kinh nghiệm. Đến một thời gian quy định, nhân viên ngân hàng được chuyển đổi công việc để nâng cao nghiệp vụ của mình. 2.4 Phương pháp lí luận. Sử dụng phương pháp lí luận để nhận định nghiệp vụ kế toán trích lập dự phòng tại ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân để thấy được vai trò quan trọng việc giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh cũng như giảm thiểu ở mức thấp nhất trong sự an toàn về nguồn vốn của ngân hàng. 3. Đánh giá về nội dung. 3.1. Mở rộng nghiệp vụ trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro. Đối với tình hình thực hiện trích lập dự phòng cụ thể của các NHTM Việt Nam, do chưa thể ngay lập tức thay đổi được căn cứ phân loại tài sản Có, và việc trích lập dựa trên tiêu chí thời hạn của khoản vay là chủ yếu, nên để hoàn thiện hơn việc trích lập dự phòng thì các NHTM cần mở rộng đối tượng trích lập: Đối với bất kỳ khoản cho vay nào của ngân hàng, ngay khi giải ngân ra đã có thể tiềm ẩn rủi ro. Cho dù ngân hàng đã thẩm định rất kĩ thì những biến động mang tính khách quan có thể ảnh hưởng đến khoản vay. Bởi thế, ngay khi khoản vay mới được giải ngân hoặc đang ở trạng thái bình thường, chưa phải là quá hạn thì cũng không có nghĩa là ngân hàng sẽ không gặp rủi ro. Vì thế ngay khi cho vay, ngân hàng cần trích lập dự phòng rủi ro cho khoản vay đó theo một tỷ lệ nhất định, khoảng từ 1% đến 2% giá trị của khoản vay. Tuy trích lập với tỷ lệ thấp nhưng ngân hàng cần duy trì việc trích lập này thường xuyên để có nguồn ổn định đảm bảo đáp ứng khi tổn thất xảy ra. Đối với khách hàng có quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng, nhiều tổ chức tín dụng khác nhau, khi khách hàng có một khoản vay bị xếp vào dạng quá hạn ở một ngân hàng thì ngân hàng cũng cần trích lập dự phòng cho khoản vay của khách hàng đó ở ngân hàng mình, dù khoản vay đó vẫn chưa quá hạn. Việc trích lập này để đảm bảo an toàn cho ngân hàng vì khi một khoản vay đã quá hạn thì các khoản vay khác của khách hàng đó cũng tiềm ẩn nguy cơ khó thu hồi. Ngân hàng cần trích lập dự phòng cho cả các khoản lãi của các khoản nợ khó thu hồi. Khi một khoản nợ của ngân hàng không thu hồi được thì khoản lãi của khoản vay đó cũng sẽ không thu được. Do đó, nó gây ảnh hưởng đến kế hoạch doanh thu của ngân hàng. Việc trích lập này có thể chỉ cần thực hiện theo một tỷ lệ nhỏ của khoản lãi mà ngân hàng nhẽ ra thu được. Tuy nhiên điều này sẽ phản ánh chính xác hơn những thiệt hại mà ngân hàng phải gánh chịu khi rủi ro xảy ra. Đối với các hoạt động bảo lãnh thanh toán của ngân hàng, ngân hàng đã thu được phí bảo lãnh nhưng chưa phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà mới chỉ theo dõi ngoại bảng. Vì thế, rủi ro có thể xảy ra bất cứ khi nào. Trong hoạt động của các ngân hàng hiện đại ngày nay, hoạt động bảo lãnh rất phát triển dưới nhiều hình thức, nên đây là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro đối với ngân hàng. Do đó, các ngân hàng cũng cần duy trì một tỷ lệ trích lập dự phòng nhất định cho hoạt động này. 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro. Để việc trích lập dự phòng được thực hiện có hiệu quả và sử dụng hợp lý, tránh tăng chi phí hoạt động của ngân hàng một cách không cần thiết, thì ngân hàng phải kiểm soát được chất lượng tài sản Có. Muốn vậy, ngân hàng cần phải có các biện pháp thu thập, phân tích và quản lý thông tin có hiệu quả. Các thông tin mà ngân hàng thu thập có thể là các thông tin về khách hàng vay, về xếp hạng doanh nghiệp, về thị trường trong và ngoài nước, về các chính sách kinh tế vĩ mô…hoặc cũng có thể là các thông tin kịp thới về tình hình hoạt động của ngân hàng, về tình hình huy động vốn hay cấp tín dụng của các chi nhánhh trực thuộc…Viẹc thu thập và quản lý các thông tin này là rất quan trọng, nó giúp cho ngân hàng đánh giá được chính xác những rủi ro tiềm ẩn, từ đó có biện pháp phòng ngừa thích hợp. Để thu thập thông tin có hiệu quả thì việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến, hiện đại là rất cần thiết. Việc thực hiện chương trình quản lý thông tin ngân hàng tập trung dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp cho ngân hàng rất nhiều trong công tác quản lý nguồn vốn tài sản, quản lsy rủi ro… nhờ đó ngân hàng sẽ cải thiện được hiệu quả kinh doanh. CHƯƠNG IV: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA NGHIỆP VỤ KẾ TOÁN TRÍCH LẬP QUỸ DỰ PHÒNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT THỌ XUÂN. 1. Khái quát về chi nhanh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân 1.1. Sự ra đời và phát triển của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Theo đó ngân hàng No& PTNT Thọ Xuân được ra đời theo quyết định số 51/QĐ-NH ngày 27/06/1988 của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam( Nay là Thống đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam) và là một trong 27 huyện trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp Thanh Hóa. Theo đó ngân hàng được mang tên ngân hàng nông nghiệp Thọ Xuân, đến năm 1997 chính thức đổi tên thành ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Giai đoạn mới thành lập: ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân đã gặp rất nhiều khó khăn, phải đối mặt với nhiều thử thách. Từ đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, mạng lưới hoạt động đều rất thiếu thốn và lạc hậu. kết quả hoạt động kinh doanh khi mới thành lập chủ yếu dựa vào hoạt động tín dụng, song nguồn vốn chỉ có khoảng 1 tỷ đồng. Được tập trung cho vay hai thành phần kinh tế là : Doanh nghiệp Nhà Nước 38% và HTX 62%, Nợ quá hạn chiếm 7,6% trên tổng dư nợ. Có thể tín dụng bao cấp: cho vay theo quy định, theo kế hoạch nhà nước, lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi suất huy động. Do đó hoạt đông của ngân hàng gặp nhiều khó khăn và chưa có định hướng đầu tư vào các loại hình mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Giai đoạn 2000 - nay: là thời kì hoạt động ngân hàng hướng theo cơ chế thị trường nên ngân hàng đã tự lực về vốn và tìm kiếm thị trường đầu tư. Theo chủ trương này ngân hàng đã mở rộng thêm các phòng giao dịch để tiến hành nhanh chóng mở rộng mạng lưới kinh doanh và bắt đầu hình thành hệ thống các chi nhánh ngân hàng phục vụ người nghèo. Các hoạt động của ngân hàng được phát triển và ngày càng đa dạng. Đồng thời ngân hàng cũng thực hiện khoán tài chính và bắt đầu thực hiện kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế trong giai đoạn này. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ và ban lãnh đạo, trong những năm qua, ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Từ nguồn vốn và dư nợ rất thấp, đến nay ngân hàng đã có khối lượng vốn lớn, dư nợ không ngừng tăng trưởng. Ngân hàng vẫn đang tiếp tục phát triển và mở rộng không ngừng để phục vụ ngày càng tốt hơn việc phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung trên địa bàn huyện Thọ Xuân. 1.2. Mô hình tổ chức của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Bộ máy tổ chức của ngân hàng No&PTNT được áp dụng theo phương thức quản lý trực tuyến: ban giám đốc quản lý tất cả các phòng ban ở trung tâm cũng như các phòng ban tại các chi nhánh và phòng giao dịch trực thuộc. Mỗi phòng ban thực hiện những chức năng và nhiệm vụ được qui định rõ ràng, có quyền hạn và trách nhiệm cụ thể. Các phòng ban ở trung tâm quản lý về mặt nghiệp vụ đối với các phòng ban tương ứng tại các chi nhánh ngân hàng quận, các phòng giao dịch và các quĩ tiết kiệm. Sơ đồ 2: Bộ máy tổ chức của ngân hàng No và PTNT Thọ Xuân. Phòng kế toán ngân quỹ Phòng thẩm định Phòng kinh doanh Giám đốc Phòng hành chính Phòng tín dụng Giám đốc: có nhiệm vụ chủ yếu là điều hành và quản lí mọi hoạt động của chi nhánh theo pháp luật của nhà nước và các quy chế của ngân hàng nhà nước Phòng tín dụng: tiến hành tổng hợp báo cáo tình hình nợ đến hạn phả trả và thực hiện cho vay trực tiếp(chuyên cầm cố sổ tiết kiệm và thực hiện giao dịch với các doanh nghiệp). Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch kinh doanh theo định hướng của ngân hàng No&PTNT Việt Nam. Đồng thời cân đối nguồn vốn, sử dụng vốn và điều hòa vốn kinh doanh. Phòng kế toán ngân quỹ: chịu trách nhiệm về công tác tài chính và hạch toán kế toán của chi nhánh theo dúng quy định. Đây là phòng có trách nhiệm hậu kiểm những chứng từ kế toán của phòng ban khác tại ngân hàng. Phòng thẩm định: thực hiện thẩm định tính hiệu quả của các khoản vay các dự án xin vay để tư vấn cho giám đốc và phòng tin dụng trong quyết định cho vay. Phòng hành chính: thực hiện công tác xây dựng cơ bản, sửa chữa tài sản cố định, mua sắm công cụ lao động, xử lí văn thư… Với mô hình tổ chức như trên, ban lãnh đạo của ngân hàng có thể nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động kinh doanh của tất cả các chi nhánh quận và các phòng giao dịch. Từ đó ban lãnh đạo sẽ có biện pháp chỉ đạo hợp lý, chính xác giải quyết những vướng mắc trong quá trình hoạt động nhằm đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu phát sinh. 1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh chung của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Bảng 3: Tình hình nguồn vốn và dư nợ của ngân hàng No và PTNT Thọ Xuân trong một số năm. Đơn vị: tỷ đồng. Năm 2007 2008 2009 2010 Nguồn vốn huy động + Nguồn vốn VNĐ + Nguồn vốn ngoại tệ 334 317 22 425 386 31 615 537 74 974 905 79 Dư nợ + Dư nợ VNĐ +Dư nợ ngoại tệ 129 122 23 142 137 33 203 163 37 298 220 56 (Nguồn: Phòng kế toán ngân quỹ ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân) Với những thuận lợi và cả những khó khăn gặp phải trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân đã biết tranh thủ những thuận lợi, tận dụng thời cơ, từng bước vượt qua khó khăn, nhờ vậy, chi nhánh đã đạt được những kết quả đáng kể trong hoạt động kinh doanh những năm qua, khẳng định được vị thế của mình trong hệ thống NHTM Việt Nam. Qua các số liệu trên, có thể thấy tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngân hàng là khá cao. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn hàng năm hơn 50%, tốc độ tăng trưởng bình quân của mức dư nợ hàng năm hơn 30%. Đây là tốc độ phát triển rất nhanh. Nó chứng tỏ ngân hàng thực sự hoạt động có hiệu quả trong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư cũng như trong việc cấp tín dụng cho nền kinh tế. 2. Thực trạng nghiệp vụ kế toán trích lập qũy dự phòng rủi ro tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 2.1. Tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Trong những năm qua, ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân đã sử dụng tốt đồng vốn huy động vào việc cho vay có hiệu quả. Khối lượng tín dụng ngày một tăng cả về số lượng và chất lượng, phạm vi kinh doanh và đối tượng khách hàng không ngừng được mở rộng. Nhờ vậy hoạt động tín dụng đã đem lại nguồn thu ổn định cho ngân hàng. Bảng 4: Tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân qua một số năm. Đơn vị tính: tỷ đồng Thời điểm 2007 2008 2009 So sánh 2008/2007 So sánh 2009/2008 +/- %+/- +/- %+/- Tổng dư nợ 157 200 278 +43 +27,3% +78 +39% Chia theo thời hạn: + Ngắn hạn +Trung hạn 143 49 158 75 189 79 +15 +26 +10,5% +53% +31 +4 +19% +5,3% Chia theo đồng tiền: + Bằng VND + Bằng ngoại tệ 137 35 163 37 223 56 +26 +2 +19% +5,7% +60 +19 +36,8% +51% ( Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh các năm 2007,2008,2009,2010 của ngân hàng No và PTNT) Từ 2007 đến nay, không chỉ dừng lại ở các khách hàng truyền thống và lĩnh vực truyền thống, hoạt động cho vay của ngân hàng đã được mở rộng về cả phạm vi và đối tượng khách hàng. Ngân hàng đã mở rộng đầu tư tín dụng cho mọi thành phần kinh tế, chú trọng mở rộng cho vay trung dài hạn để hỗ trợ cho các doanh nghiệp đổi mới thiết bị, mở rộng qui mô sản xuất. Qua các số liệu trên, có thể thấy, trong ba năm gần đây, mức dư nợ của chi nhánh không ngừng tăng. Chỉ trong thời gian 2 năm mức dư nợ đã tăng gần gấp đôi. Trong đó, cho vay ngắn hạn vẫn là chủ yếu, nhưng tỷ trọng cho vay trung dài hạn cũng ngày càng tăng trong tổng dư nợ. Tốc độ tăng của dư nợ trung dài hạn là hơn hẳn so với dư nợ ngắn hạn. Cho vay bằng VNĐ của chi nhánh vẫn là chính, nhưng cho vay bằng ngoại tệ cũng đang được đẩy mạnh, với tốc độ tăng trưởng cao. Vốn đầu tư tín dụng của ngân hàng được tập trung chủ yếu cho các dự án, phương án thực sự có hiệu quả, không phân biệt thành phần kinh tế. Thời gian qua, ngân hàng đã mở rộng phương thức cho vay đồng tài trợ với các NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần trên địa bàn, đồng thời mở rộng cho vay hộ sản xuất, cho vay sinh hoạt đối với các tầng lớp dân cư với mức dư nợ lên tới hàng trăm tỷ đồng. Cùng với sự tăng trưởng về số lượng tín dụng, chất lượng tín dụng của ngân hàng cũng ngày càng tăng. Đó là do ngân hàng đã có nhiều biện pháp thích hợp như: qui trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, từng bộ phận trong việc thẩm định tín dụng; theo dõi chặt chẽ qui trình sử dụng vốn vay cũng như việc trả nợ của khách hàng; nâng cao nhận thức của cán bộ tín dụng; thực hiện cơ chế khoán tài chính và tiền lương cùng với sự chỉ đạo chặt chẽ; công tác kiểm tra kiểm soát được thực hiện thường xuyên... 2.2. Sự cần thiết của dự phòng rủi ro trong hoạt dộng của chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Hoạt động của ngân hàng No và PTNT Thọ Xuân cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro như bất kì ngân hàng nào. Mặc dù các biện pháp đánh giá, quản lý rủi ro ngày càng được hoàn thiện hơn, nhưng vẫn không thể loại bỏ hoàn toàn những rủi ro vốn có của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Các biện pháp để nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM vẫn gặp một số trở ngại: Qui chế cho vay mới nhất của Ngân hàng Nhà nước ban hành kèm theo quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 đã tạo nhiều thuận lợi cho các ngân hàng trong việc cấp tín dụng. Theo đó khách hàng xin vay sẽ được đánh giá theo nhiều tiêu chí như năng lực pháp lý, uy tín, năng lực lãnh đạo, tình hình tài chính ... Tuy nhiên, việc đánh giá và thẩm định chính xác năng lực khách hàng không phải là điều dễ dàng. Nó chịu ảnh hưởng từ nhiều nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan xuất phát từ năng lực của cán bộ tín dụng, những rủi ro mang tính đạo đức... Vì thế rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đối với ngân hàng No và PTNT Thọ Xuân nói riêng và hệ thống NHTM Việt Nam nói chung hiện nay, bên cạnh nguy cơ phát sinh rủi ro tín dụng do sự yếu kém của chất lượng tín dụng xuất phát từ việc chưa tuân thủ các điều kiện vay vốn, thực hiện không đầy đủ các yếu tố của bộ hồ sơ cho vay, các biện pháp bảo đảm tiền vay không có hiệu quả... thì hoạt động của các NHTM đang chứa đựng nguy cơ đổ vỡ cap do mức dư nợ tồn đọng rất lớn. Tỷ lệ nợ tồn đọng của các NHTM Việt Nam hiện nay lớn gấp 4 lần vốn tự có. Đây là những khoản nợ để lại do yếu tố lịch sử từ thời kì bao cấp, nhưng nó lại đang trở thành một gánh nặng rất lớn cho ngân hàng trong quá trình lành mạnh hoá tài chính. Một nguyên tắc đối với bất kì một khoản vay nào là ngân hàng yêu cầu phải có bảo đảm tín dụng. Đó có thể là bảo đảm đối vật hoặc bảo đảm đối nhân. ở Việt Nam, bảo đảm đối nhân chưa thực sự phổ biến. Còn đối với bảo đảm đối vật, tức là khách hàng dùng tài sản là bất động sản hoặc động sản để đảm bảo, thì ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn khi xử lý. Hệ thống pháp lý liên quan đến việc xử lý các tài sản đảm bảo chưa hoàn chỉnh, ví dụ như quyền sở hữu, quyền sử dụng, cơ chế chuyển nhượng, phát mại tài sản, những nguyên tắc định giá, đấu giá...Sự phối kết hợp giữa các ngành chưa chặt chẽ, nhiều nơi chính quyền địa phương chưa thực sự ủng hộ ngân hàng trong việc thu giữ và phát mại tài sản đảm bảo. Sự cộng tác của cơ quan pháp luật hiệu quả còn thấp. ở Việt Nam, thị trường bất động sản chưa thực sự phát triển và không có tổ chức. Như vậy mặc dù có tài sản đảm bảo, ngân hàng cũng không thể hạn chế triệt để rủi ro tín dụng. Đối với nợ không có tài sản đảm bảo và con nợ không còn thì việc hoàn chỉnh hồ sơ để trình chính phủ cho xoá nợ cũng gặp một số vướng mắc: một số đơn vị đã giải thể hoặc tự tan rã từ lâu rất khó lấy xác nhận của cấp có thẩm quyền, một số doanh nghiệp thực chất đã ngừng hoạt động và không có khả năng trả nợ ngân hàng song chưa đủ thủ tục để tuyên bố phá sản hoặc giải thể... Xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan nói trên, việc ngân hàng sử dụng nguồn quỹ dự phòng để hạn chế những ảnh hưởng của việc mất vốn trở nên rất quan trọng. Dự phòng rủi ro được trích lập dựa trên việc phân loại tài sản Có của ngân hàng trở thành một nguồn quỹ cần thiết và chủ động của ngân hàng nhằm đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh. 2.3. Tài khoản sử dụng trong việc trích lập dự phòng rủi ro tại ngân hàng. Tài khoản loại 2: Tài khoản 2051, 2061, 2111, 2121,....: Tài khoản nợ trong hạn và đã được gia hạn nợ. Tài khoản 2052, 2062, 2112, 2122,....: Tài khoản nợ quá hạn đến 180 ngày có khả năng thu hồi. Tài khoản 2053, 2063, 2113, 2123,....: Tài khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày có khả năng thu hồi. Tài khoản 2058, 2068, 2118, 2128,....: Tài khoản nợ khó đòi. Tài khoản 479004: Tài khoản các khoản phải trả về dự phòng rủi ro tín dụng. Tài khoản này được mở tiểu khoản cho từng ngân hàng đơn vị trực thuộc, mở cho nội tệ riêng, ngoại tệ riêng. Tài khoản 872: Tài khoản chi dự phòng. Gồm các tài khoản chi tiết: Tài khoản 8721: Tài khoản chi dự phòng giảm giá vàng, ngoại tệ. Tài khoản 8722: Tài khoản chi dự phòng nợ phải thu khó đòi. Tài khoản 8723: Tài khoản chi dự phòng giảm giá chứng khoán. Tài khoản 8724: Tài khoản chi dự phòng dịch vụ thanh toán. Tài khoản 8725: Tài khoản chi dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Tài khoản 790001: Tài khoản thu hoàn nhập dự phòng rủi ro. Tài khoản 971: Tài khoản nợ bị tổn thất đang trong thời gian theo dõi. Tài khoản này được mở tiểu khoản theo từng khách hàng nợ và từng khoản nợ, có các tài khoản chi tiết: Tài khoản 971001: Tài khoản nợ bị tổn thất đang trong thời gian theo dõi. Tài khoản 971005: Tài khoản dự phòng rủi ro đã đưa vào chi phí. Tài khoản 971006: Tài khoản dự phòng rủi ro đã chuyển về Trụ sở chính. 2.4. Quy trình thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tại ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Định kì hàng quí, các chi nhánh trực thuộc ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân căn cứ theo các qui định, thực hiện: Phân loại tài sản có tại thời điểm ngày cuối cùng của tháng thứ hai trong quí và dự kiến số tiền phải trích lập ( theo mẫu 01 ) gửi chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Tập trung các khoản rủi ro đủ điều kiện xử lý trình Hội đồng xử lý rủi ro của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân xét duyệt. Lập phương án thu hồi nợ đối với những khoản nợ đã được xử lý rủi ro trước đây. Trên cơ sở báo cáo của các chi nhánh đơn vị trực thuộc, Hội đồng xử lý rủi ro của chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân tổ chức họp để quyết định các vấn đề sau: Lập biểu tổng hợp phân loại tài sản có và trích lập dự phòng của toàn đơn vị để gửi về Trụ sở chính ( theo mẫu 01 ). Xét duyệt các khoản rủi ro của đơn vị mình theo mức được phân cấp xử lý theo qui định. Kết quả xét duyệt được lập thành danh sách ( theo mẫu 02 ). 2.5. Thực trạng nghiệp vụ kế toán trích lập dự phòng rủi ro tại ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. 2.5.1 Các căn cứ để trích lập. Ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân thực hiện trích lập dự phòng dựa trên việc phân loại tài sản “Có” theo quyết định 488 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Có thể tổng kết việc phân loại tài sản Có và tỉ lệ trích tương ứng theo bảng sau: Bảng 5: Phân loại tài sản Có và tỷ lệ trích lập dự phòng Phân Loại Hoạt động cấp tín dụng Dịch vụ Thanh toán I II III IV Khoản thanh toán hộ khách hàng, TCTD khác quá hạn thu hồi Nợ trong hạn và được gia hạn Nợ quá hạn Cho vay +Có tài sản bảo đảm +Không có TS bảo đảm <181 <91 181-360 91-180 >360 >180 CK-tái CK thương phiếu & GTCG quá hạn <31 31-60 >60 Bảo lãnh trả thay <61 61-180 >180 Cho thuê tài chính <181 181-360 >361 Tỉ lệ trích 0% 20% 50% 100% 20% Các loại tài sản Có không phải trích lập dự phòng bao gồm: Những khoản cho vay bằng nguồn tài trợ uỷ thác đầu tư theo từng hiệp định đã kí kết với các tổ chức nước ngoài, đã được trích dự phòng theo yêu cầu của từng hiệp định và có cơ chế xử lý rủi ro riêng. Những khoản nợ đang trong thời gian được khoanh nợ, giãn nợ theo các quyết định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Tổng số tiền phải trích lập dự phòng của chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân bao gồm số tiền phải trích cho cả hai loại tài sản Có là hoạt động tín dụng và hoạt động dịch vụ thanh toán theo qui định trên. 2.5.2 Phương pháp hạch toán trích lập dự phòng rủi ro: Nhận được dự phòng rủi ro do các chi nhánh ngân hàng cấp 1 chuyển về, kế toán hạch toán: Nợ TK: 5112 – Chuyển tiền đến Có TK: 479004 – Các khoản phải trả về dự phòng rủi ro tín dụng ( Mở và hạch toán riêng tiểu khoản cho từng đơn vị ngân hàng trực thuộc, nội tệ riêng, ngoại tệ riêng). Khi tập hợp đủ dự phòng của các ngân hàng cơ sở, lập các lệnh chuyển về Trụ sở chính . Trên lệnh chuyển tiền phải ghi rõ chuyển dự phòng rủi ro nội tệ, ngoại tệ của quí...năm... về Sở giao dịch ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Kế toán hạch toán: Nợ TK: 479004 – Các khoản phải trả về dự phòng rủi ro tín dụng. Có TK: 5111 – Chuyển tiền đi. Đồng thời hạch toán ngoại bảng: Nhập TK 971006 – Dự phòng rủi ro đã chuyển về Trụ sở chính của ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân ( Mở và hạch toán riêng tiểu khoản cho từng ngân hàng trực thuộc, nội tệ riêng, ngoại tệ riêng ). Sơ đồ 3: Sơ đồ hạch toán kế toán trích lập dự phòng rủi ro TK chuyển tiền đi TK 479004 TK chuyển tiền đến (2a) (1) (2b) Nhập: TK 971006 (1). Nhận dự phòng rủi ro của các chi nhánh ngân hàng cấp 1 chuyển về. (2). a- Chuyển dự phòng rủi ro về Trụ sở chính. b- Đưa ra theo dõi ngoại bảng. 2.6. Thực trạng nghiệp vụ kế toán sử dụng dự phòng rủi ro. 2.6.1 Các quy định về sử dụng dự phòng để xủ lý rủi ro đối với chi nhánh ngân hàng No&PTNT Thọ Xuân. Các trường hợp được sử dụng nguồn dự phòng đã trích để xử lý rủi ro: Do chi nhánh ngân hàng No và PTNT Thọ Xuân là chi nhánh cấp 2 thuộc ngân hàng No&PTNT Việt Nam, nên theo qui định về phân cấp xử lý rủi ro, thì chi nhánh được quyền xử lý rủi ro đối với các trường hợp tài sản “ Có” có thời gian quá hạn ( kể cả trường hợp các tổ chức bị phá sản, giải thể nhưng chưa hoàn thành việc thanh toán tài sản ) như sau: Những khoản cho vay có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ từ 721 ngày trở lên; những khoản cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đã quá hạn trả nợ từ 361 ngày trở lên. Những khoản tiền chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã quá hạn thanh toán từ 91 ngày trở lên. Số tiền trả thay cho người được bảo lãnh nhưng chưa thu hồi được từ 361 ngày trở lên. Những khoản cho thuê tài chính mà bên thuê không trả được tiền thuê từ 721 ngày trở lên. Số tiền thanh toán hộ khách hàng, tổ chức tín dụng khác ( không bao gồm những khoản trả thay cho người được bảo lãnh ) đã quá hạn thu hồi từ 181 ngày trở lên. Số ngày quá hạn được tính từ thời điểm hạch toán chuyển quá hạn trên tài khoản kế toán cho đến thời điểm xử lý rủi ro. Mức xử lý rủi ro cho một khách hàng tính cả nội tệ và ngoại tệ qui đổi ( theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ) tại thời điểm xử lý rủi ro như sau: Khách hàng là doanh nghiệp nhà nước: 2 tỷ đồng trở xuống. Các khách hàng còn lại: 1 tỷ đồng trở xuống. Đối với các trường hợp vượt quyền xử lý của chi nhánh thì chi nhánh phải tập hợp chuyển về Trụ sở chính để xử lý. Nguyên tắc xử lý rủi ro: Chi nhánh chỉ được xử lý rủi ro trong phạm vi số dư quĩ dự phòng đã trích còn trên tài khoản tại Sở giao dịch ngân hàng No&PTNT Việt Nam. Trường hợp sử dụng vượt phải được phê duyệt bằng văn bản của Chủ tịch Hội đồng xử lý rủi ro tại Trụ sở chính theo nguyên tắc có hoàn trả. Đối với những khoản được xử lý rủi ro ( trừ những khoản Chính phủ cho phép xoá nợ cho khách hàng ) phải thực hiện đúng các nguyên tắc sau đây: Không được điều chỉnh giảm số nợ trong hồ sơ cho vay đối với phần nợ đã được xử lý rủi ro. Bảo đảm bí mật và tuyệt đối không được thông báo cho khách hàng biết về

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHoàn thiện nghiệp vụ kế toán trích lập quỹ dự phòng rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ dự phòng tại Chi nhánh ngânhàng NHNo&PTNT Thanh Hóa.doc
Tài liệu liên quan