Đề tài Thuế giá trị gia tăng và việc sử dụng sắc thuế này ở Việt nam cùng với những vấn đề vướng mắc còn tồn tại và những giải pháp cần tháo gỡ

Những điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thuế GTGT là :

· Các hoạt động sản xuất, kinh doanh,mua bán hàng hoá lớn và vừa phải thực hiện đầy đủ chế độ chứng từ, hoá đơn, thuận tiện cho việc kiểm tra, xác định doanh thu tính thuế và khấu trừ thuế đối với từng cơ sở kinh doanh.

· Trình độ cán bộ quản lý thu thuế được nâng cao về chế độ chứng từ , hoá đơn, sổ kế toán, thông thạo về ché độ quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế, hoán thuế GTGT. Cơ quan thuế từng bước trang bị hệ thống máy vi tính, cán bộ ngày càng thông thạo việc sử dụng các mạng máy vi tính đạt hiệu quả cao.

 

doc32 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 05/09/2014 | Lượt xem: 859 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thuế giá trị gia tăng và việc sử dụng sắc thuế này ở Việt nam cùng với những vấn đề vướng mắc còn tồn tại và những giải pháp cần tháo gỡ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đơn đầy đủ nên việc thu thuế thường tương đối sát với thực tế hoạt động kinh doanh. Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích hiện đại hoá,chuyên môn hoá sản xuất,tích cực đầu tư,mua sắm trang thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm. Nhìn chung,trong các sắc thuế gián thu,thuế GTGT được coi là phương pháp thu tiến bộ nhất hiện nay,được đánh giá cao do đạt được các mục tiêu lớn của chính sách thuế, như tạo được nguồn thu lớn cho Ngân Sách Nhà Nước, đơn giản,trung lập. 2. Nhược điểm chủ yếu của thuế GTGT Nhược điểm của thuế GTGT được thể chủ yếu ở các mặt sau: Chi phí về quản lý,thu thuế GTGT rất tốn kém. Để thực hiện tốt thuế GTGT,công tác ghi chép hoá đơn, sổ sách kế toán của người nộp thuế phải rõ ràng,minh bạch.Trên thực tế không phải tất cả các doanh nghiệp vừa và lớn thuộc mọi thành phần kinh tế đều làm tốt công tác này.Do đó, hầu hết các nước đang thực hiện thuế GTGT đều sử dụng hệ thống vi tính để đảm bảo chống thất thu đạt hiệu quả và quản lý thu thuế được thuận lợi. Nếu không theo dõi,quản lý thuế chặt chẽ,dễ xảy ra tình trạng phải hoàn thuế nhiều hơn là thu được thuế. Thuế GTGT có ít thuế suất nên người tiêu dùng có thu nhập cao hay thất thường phải nộp giống nhau,thuế mang tính luỹ thoái. Tỷ lệ động viên qua thuế GTGT với người có thu nhập thấp lại lớn hơn tỷ lệ động viên đối với người có thu nhập cao,thuế không đảm bảo yêu cầu công bằng trong chính sách động viên giữa người giàu và người nghèo. Giữa lý luận và thực tế,thuế GTGT cũng có những điểm chưa được nhất quán.Thuế GTGT đánh trên phần giá trị tăng thêm nhưng đối với một số nghành dịch vụ (như phục vụ sửa chữa,chuyển giao công nghệ,dịch vụ khoa học) cách đánh thuế và khấu trừ thuế GTGT như thế nào là hợp lý ? Đối với tài sản cố định,mức khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào thế nào là thoả đáng...Những vấn đề này là nội dung tranh luận trong nhiều cuộc hội thảo trên thế giới,nhưng đến nay ở nhiều nước vẫn có nhiều quan điểm và cách xử lý khác nhau. Thuế GTGT có ưu điểm là tính tập trung rất cao.Đồng thời cũng lại có nhược điểm là thiếu linh hoạt, mềm dẻo,không thật thích hợp với nền kinh tế mới bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia. PHần 2 Vấn Đề Xây Dựng Và áp Dụng Mô Hình Thuế GTGT ở Việt Nam I. Thực trạng của việc áp dụng thuế doanh thu ở nước ta trong những năm trước đây. 1. Ưu điểm của thuế doanh thu. Thuế doanh thu là một loại thuế thu vào các hoạt động sản xuất,kinh doanh, dịnh vụ.Thuế doanh thu mang tính chất của một loại thuế gián thu,một yếu tố cấu thành trong giá,nhằm động viên đóng góp sự của người tiêu dùng cho ngân sách Nhà nước. Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua luật thuế ngày 30 tháng 6 năm 1990,có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 1990 thay thế chế độ thu quốc doanh ( đối với kinh tế quốc doanh) và một số loại thuế ( trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh) như thuế doanh nghiệp, thuế buôn chuyến, thuế muối, thuế hàng hoá đối với một số cơ sở sản xuất trước đây thuộc diện nộp thuế hàng hoá,nay không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế doanh thu được áp dụng thống nhất chung đối với các thành phần quốc doanh và ngoài quốc doanh nhằm bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế và sự công bằng, bình đẳng về chính sách động viên thuế giữa những người tiêu dùng cho ngân sách Nhà nước. Thuế được áp dụng rộng rãi đối với mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc mọi nghành nghề, mọi hình thức, hoạt động thường xuyên hoặc không thường xuyên, có địa điểm cố định hay lưu động ( trừ sản xuất nông nghiệp trước nộp thuế nông nghiệp và từ 01-01-1994 nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và sản xuất hàng xuất khẩu ). Vì vậy thuế doanh thu đã trở thành một nguồn thu tương đối tập trung, ổn định của ngân sách Nhà nước. Từ 1991 đến 1995,thuế doanh thu đã tăng nhanh qua các năm ( từ 35% đến 45% ) và chiếm từ 16,5% đến 20,3% tổng số phí và thuế trong ngân sách Nhà nước. Thông qua cơ cấu thuế suất cao, thấp khác nhau ( từ 0% đến 30%) giữa các ngành nghề,Nhà nước thể hiện quan điểm khuyến khích hay hạn chế,nhằm hướng dẫn,điều chỉnh nền kinh tế có lợi cho quốc kế dân sinh theo hướng phát triển của đất nước. Biện pháp tính thuế doanh thu đơn giản, thuận tiện cho việc kiểm tra của cán bộ thuế. Các mức thuế suất được có kế thừa chế độ thu trước, không gây đảo lộn về giá cả, về số thu ngân sách trong những năm đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Riêng đối với khu vực kinh tế quốc doanh, đã được Nhà nước ưu đãi, chiếu cố về miễn,giảm thuế giúp đỡ khắc phục một số khó khăn trong bước đầu chuyển đổi cơ chế sản xuất,kinh doanh, bảo đảm nộp được thuế và có lãi. Số xí nghiệp làm ăn thua lỗ hiện nay chỉ còn dưới 5% tổng số xí nghiệp, cùng với một số xí nghiệp được sắp xếp lại cho phù hợp với cơ chế mới. 2. Nhược điểm và hạn chế của thuế doanh thu Trong quá trình thực hiện thuế doanh thu đã bộc lộ những nhược điểm, hạn chế chủ yếu là : Thuế tính trên toàn bộ doanh thu ( gồm cả thuế doanh thu ) qua từng khâu luân chuyển hàng hoá từ sản xuất,bán buôn đến bán lẻ đã ảnh hưởng không tốt đến giá cả và sản xuất,kinh doanh. Cùng một mặt hàng nếu được tổ chức sản xuất và luân chuyển qua ít khâu tổng số thuế phải nộp sẽ thấp hơn so với việc tổ chức qua nhiều khâu không phù hợp với cơ chế thị trường. Do thuế doanh thu còn nhiều nhóm thuế suất khác nhau nên đã hạn ché tính trùng lặp của thuế.Trong nghành sản xuất thương nghiệp, dịnh vụ thuế suất phân biệt quá chi li, nhưng tiêu thức sắp xếp cho từng loại thuế cụ thể thiếu rõ ràng, khó phân biệt để áp dụng được thuế suất chính xác.Có trường hợp hiểu thế nào cũng đúng, áp dụng thế nào cũng được mặc dù thuế suất chênh lệch nhau rất lớn.Ví dụ hoá chất cơ bản 1% và hoá chất thông thường đến 4% ; trong nghành cơ khí sản xuất máy móc, thiết bị cong cụ 1% ; các sản phẩm cơ khí khác 2%-4%...Do nhiều căn cứ xác định thuế chính xác , thuế suất lại chênh lệnh nhau nhiều nên đẫ phát sinh không ít tiêu cực, tuỳ tiện trong vận dụng luật thuế. Thuế doanh thu chưa thu đối với mặt hàng thuộc diện đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, hàng nhập khẩu, hàng xuất khẩu nên chưa tạo được môi trường thuận lợi cho việc hoà nhập với thông lệ khu vực, quốc tế, chưa hỗ trợ hàng xuất khẩu giảm giá thành để có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Mục tiêu,yêu cầu và điều kiện thay thế thuế doanh thu bằng thuế GTGT 1/ Mục tiêu,yêu cầu của việc ban hành thuế GTGT Việc ban hành thuế GTGT thay thé thuế doanh thu ở Việt Nam nhằm những mục tiêu và yêu cầu chủ yếu sau : Hạn chế những nhược điểm tồn tại của thuế doanh thu, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu.Thuế GTGT được ban hành gắn với việc sửa đổi, bổ sung một số sắc thuế ( thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu...) làm cho hệ thống thuế của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, phù hợp với cơ chế thị trường, tương đồng với hệ thống thuế trong khu vực và trên thế giới, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tăng cường việc thực hiện chế độ hoá đơn, sổ kế toán và hạch toán kinh tế đối với các nhà doanh nghiệp, bảo đảm ngày càng sát hơn với thực tế hoạt động của từng cơ sở kinh doanh, tập trung được nguồn thu thuế GTGT vào ngân sách Nhà nước ngay từ khâu sản xuất hạn chế được thất thu về thuế. 2. Điều kiện cần thiết để áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam Những điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thuế GTGT là : Các hoạt động sản xuất, kinh doanh,mua bán hàng hoá lớn và vừa phải thực hiện đầy đủ chế độ chứng từ, hoá đơn, thuận tiện cho việc kiểm tra, xác định doanh thu tính thuế và khấu trừ thuế đối với từng cơ sở kinh doanh. Trình độ cán bộ quản lý thu thuế được nâng cao về chế độ chứng từ , hoá đơn, sổ kế toán, thông thạo về ché độ quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế, hoán thuế GTGT. Cơ quan thuế từng bước trang bị hệ thống máy vi tính, cán bộ ngày càng thông thạo việc sử dụng các mạng máy vi tính đạt hiệu quả cao. Mở rộng diện thanh toán mua bán hàng hoá thông qua các tài khoản ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định doanh thu bán hàng, làm căn cứ cho việc tính thuế đựơc chính xác. ý thức tự nguyện,tự giác chấp hành các luật thuế của các nhà doanh nghiệp từng bước được nâng nên theo phương châm tăng cường “đức trị” gắn với việc xử lý các vi phạm về thuế nghiêm minh theo phương châm “pháp trị”. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh và đưa dần việc thực hiện pháp luật vào nề nếp, kỷ cương, cả trong nhận thức tư tưởng và trong hành động thực tề. Mỗi điều kiện đều có vai trò, vị trí quan trọng khác nhau,đồng thời có mối quan hệ, bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để việc triển khai luật thuế GTGT được đồng bộ đạt hiệu quả tốt. Sau hơn hai năm triển khai thực hiện luật thuế GTGT 1. Luật thuế mới đã góp phần khuyến khích đầu tư, xuất khẩu, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và sắp xếp cơ cấu lại nền kinh tế. Sau khi đạt tốc độ tăng trưởng kỷ lục 9,54% năm 1995,từ cuối năm 1996, kinh tế bắt đầu có biểu hiện trì trệ, nhịp độ tăng trưởng suy giảm liên tục, năm 1999 chỉ đạt 4,8%. Nền kinh tế Việt Nam đã mấy lần lâm vào thiểu phát. Thiểu phát gắn với suy giảm đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế có biểu hiện phức tạp gây tác động tiêu cực trên nhiều phương diện. Trong điều kiện nước ta hiện nay, để ngăn chặn thiểu phát , thúc đẩy tăng trương nhanh, tạo ra việc làm và hiệu quả kinh tế cao, Nhà nước đã tiến hành các giải pháp kích cầu theo kiểu áp dụng học thuyết Keynes. muốn kích câù phải tăng khối lượng tiêu dùng cá nhân các hộ gia đình và Nhà nước lên, đồng thời phải kích thích tăng đầu tư của tư nhân và của Nhà nước để đạt được “cầu hiệu quả” có quan hệ trực tiếp đến chính sách thuế nói chung, trong đó có thuế gián thu.Chính vì vậy việc thực hiện các luật thuế mới đã góp phần khuyến khích đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.Việc thực hiện luật thuế GTGT đã tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10%. Trong năm 1999, tuy gặp nhiều khó khăn do đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm khoảng 12,3% nhưng tổng vốn đầu tư vẫn tăng so với năm 1998, trong đó vốn đầu tư trong nước tăng khoảng 28,6%; vốn ODA tăng khoảng 16%. Một số sản phẩm chủ yếu đạt khá so với năm 1998 là : dầu thô tăng 19% ; sữa hộp tăng 8,7% ; đường mật tăng 28%; bia tăng 1,5% ; giấy bìa tăng 8,8%; xi măng tăng 9,2%; thép cán tăng 12,9%; điện phát ra tăng 9,7%... Đại bộ phận các doanh nghiệp nộp được thuế GTGT theo đúng luật mà vẫn có lãi. Theo quy định của luật thuế GTGT, hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0%, tức là được toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có điều kiện cạnh tranh với hàng hoá trên thị trường quốc tế.Trong năm 1999 đã hoàn thành 1800 tỷ đồng, trong đó chủ yếu là hoán thuế cho hàng hoá xuất khẩu. Trong đó, những mặt hàng được hoán thuế đầu vào nhiều, xuất khẩu tăng so với năm 1998 như là : cao su 37,2% ; cà phê 27,6% ; gạo 21,4% ; thuỷ sản 14,1% ; giày dép 36,3% ; dệt may 15,1% ; thủ công mỹ nghệ 52% ; điện tử 54%;... Thuế GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt vào hàng hoá nhập khẩu góp phần bảo hộ có hiệu quả sản xuất trong nước, đây là biệt pháp hết sức quan trọng. Thực tế trong năm 1999, Việt Nam đã giảm thuế nhập khẩu 569 lần mặt hàng, với số thuế giảm gần 100 tỷ đồng và giảm thuế theo chương trình cắt giảm thuế quan CEPT 3591 dòng hàng (tính đến năm 1999 ) trong đó riêng năm 1999 là 1872 dòng hàng. Trong năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng đều qua các quý : quý I là 5,6% ; quý II - 6,7% ; quý III – 7,0% ; quý IV tăng khoảng 7,2%. Ngoại trừ tốc độ tăng giá khác xa so với kế hoạch năm 2000, các chỉ tiêu chủ yếu còn lại đều đạt và vượt. Chính Phủ nhận định chúng ta “đã chặn được đã giảm sút về nhịp độ tăng trưởng kinh tế ” ( tốc độ tăng trưởng năm 1997 là 8,2% ; năm 1998 là 5,8% ; năm 1999 là 4,8% ) “song chưa vững chắc ” do những tồn tại yếu kém từ những năm trước. Năm 2000, với tốc độ tăng trưởng GDP 6,75%, Việt Nam vượt qua nhiều nước trong khu vực về tốc độ tăng trưởng ( Thái Lan 5,3% ; ấn Độ 5,5% ; Indonesia 3,8% ; Philipin 3,4% ) tuy nhiên vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc (8% ) Malaysia (7,5%) Hàn Quốc(8,5%). Kim nghạch xuất khẩu khu vực trong nước chỉ tăng 5,7% do giá giảm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 27,9% GDP, tăng 20% so với năm 1999, cao hơn so với năm 1998 ( 26,9% GDP, tăng 0,4% ) và 1999( 26,0%, tăng 6,8% ), tạo cơ sơ cho tăng trưởng kinh tế song vẫn thấp hơn so với năm 1997 (30,9% GDP ). Việc thực hiện các luật thuế mới đã góp phần cơ cấu lại nền kinh tế được thể hiện rõ nét trên các mặt : hợp lý hoá và giảm số thuế suất, từ đó đòi hỏi và khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả,đạt và vượt lợi nhuận trung bình của xã hội. Thông qua việc ưu đãi đầu tư, các luật thuế mới đã khuyến khích việc đầu tư vào các lĩnh vực, ngành, nghề, vùng kinh tế theo định hướng phát triển của Nhà nước, thúc đẩy việc chuyên môn hoá, hợp tác hoá, không còn đánh trùng thuế như thuế doanh thu trước đây, khuyến khích việc sản xuất kinh doanh những hàng hoá mà Việt Nam có thế mạnh như : nông sản,lâm sản, hải sản, thủ công mỹ nghệ do được khấu trừ vào một tỷ lệ ấn định từ 3%- 5%, khi mua hàng của nông dân. Trường hợp nông sản, lâm sản, hải sản xuất khẩu nếu có thuế GTGT đầu vào cũng được hoán thuế. 2. Việc triển khai thực hiện không gây biến động về giá không làm ảnh hưởng lớn đến kế hoạch thu NSNN. Theo tài liệu của tổng cục thống kê thì chỉ số giá tiêu dùng cả năm 1999 chỉ tăng 0,1% so với tháng 2 năm 1998 trong đó giá lương thực giảm 1,9%, giá thực phẩm giảm 7,8%. Nếu loại trừ nhóm lương thực, thực phẩm thì giá các nhóm hàng công nghệ phẩm và dịch vụ trong năm tăng 3% là mức bình thường và phổ biến của nhiều nền kinh tế tronh khu vực và trên thế giới. Năm 1999 là năm chỉ số giá tiêu dùng có tốc độ tăng thấp nhất từ năm 1990 đến nay. Trong năm 2000,tình hình giá cả chưa thoát khỏi đà suy giảm liên tục, năm 1999 chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 0,1% thì năm 2000 chỉ số giá tiêu dùng không tăng so với cuối năm 1999, do có tới 6 tháng chỉ số giá ở mức âm so với tháng trước. Đặc biệt lương thực giảm mạnh, gây bất lợi cho người nông dân. Hiện nay chúng ta vẫn chưa chứng minh được chỉ số giá tiêu dùng thấp và nhiều tháng âm là tốt hay xấu đối với nền kinh tế và có nên đồng nhất tăng CPI với hiệu quả kích cầu hay không. Nhìn chung tình hình giá cả ổn định nêu trên là do : Tình hình sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển và việc chỉ đạo điều hành của chính phủ được sát hơn đối với các bộ,các nghành, các địa phương trong việc quản lý thị trường, quản lý giá cả. Bản chất của thuế GTGT là không làm tăng giá, tuy nhiên trong thời gian ngắn ban đầu thực hiện luật thuế,giá hàng hoá có nhích nên do một số doanh nghiệp và hộ tư nhân thiếu hiểu biết đã lợi dụng nâng gía nhưng sau đó đã được chấn chỉnh. Năm 1999, tổng thu NSNN ước đạt 102,1% so với dự toán năm. Số thu từ nội địa do nghành thuế quản lý ước đạt 105% dự toán năm.Thuế thu từ hoạt động xuất nhập khẩu do nghành Hải quan quản lý tăng 34,8% so với năm 1998. Riêng số thuế thu từ thuế GTGT sau khi trừ, hoán thuế đạt được mức tương đương thuế doanh thu trước đây. Các nhiệm vụ cơ bản về ngân sách năm 2000 đều được thực hiện tốt. Thu ngân sách hoàn thành vượt dự toán 8,9% riêng thu trong nước không kể dầu thô tăng 2%.Ước cả năm thu ngân sách đạt 18,1%GDP xấp xỉ tỷ lệ năm 1999(18,2%), tỷ lệ tương đối phù hợp để kích thích sản xuất kinh doanh. Để đạt được kết quả trên là nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của đảng của Chính phủ, các bộ, các ngành, các địa phương. Đồng thời công tác tuyên truyền, phổ biến về pháp luật thuế, tập huấn nhiệm vụ có nhiều tiến bộ hơn so với việc triển khai các luật thuế trước đây. Hơn nữa các cơ sở kinh doanh và mọi tầng lớp nhân dân đều hưởng ứng và đồng tình thực hiện các luật thuế mới do các luật thuế mới tiến bộ hơn và có nhiều ưu điểm hơn các luật thuế cũ. Bên cạnh đó chính sách thuế đã có những điều chỉnh phù hợp với nhiệm vụ năm 2000, đồng thời tương đối uyển chuyển nhằm đối phó với những biến động của thị trường đảm bảo khuyến khích sản xuất phát triển. Trọng tâm cải cách thuế bước 2 năm 2000 là điều chỉnh mức thuế GTGT cho phù hợp với từng nghành nghề sản xuất kinh doanh, thực hiện hoán thuế một cách thuận lợi. Trước tình hình giá dầu tăng Chính phủ chủ động giảm thuế nhập khẩu xăng dầu từ 10 % xuống 0% giúp các doanh nghiệp giữ chi phí sản xuất ở mức hợp lý, bảo đảm sức cạnh tranh mặc dù số thực thu thuế xuất nhập khẩu chỉ đạt khoảng 80% dự toán năm. 3. Luật thuế mới đã bước đầu tác động đếncông tác quản lý của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra,giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Từ 11 mức thuế suất thuế doanh thu xuống còn 3 mức thuế suất thuế GTGT và từ 3 mức thuế suất thuế lợi tức xuống còn 1 mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu sắp xếp lại sản xuất,đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình độ quản lý để thực hiện các mức thuế suất mới.Sự chuyển biến này thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân,công ty TNHH, công ty cổ phần. Thông qua đó giúp cho các cơ quan chức năng của Nhà nước và cơ quan thuế từng bước nắm được sát tình hình sản xuất kinh doanh cũng như tăng cường kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp. 4. Những tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu xử lý. a/ Về thuế suất GTGT Tuy đã có những biện pháp xử lý cơ bản những khó khăn về thuế suất thuế GTGT,nhưng vẫn còn một số mặt hàng, nghành nghề vẫn còn vướng mắc cần tiếp tục nghiên cứu xử lý. Điều 8 luật thuế GTGT quy định 4 mức thuế suất đối với hàng hoá dịch vụ là 0%, 5%, 10% và 20%. Theo tinh thần của điều luật này lĩnh vực được ưu tiên có mức thuế suất thấp là hàng xuất khẩu, hàng hoá tạo ra từ sản xuất nông nghiệp, từ hoạt động y tế, giáo dục.Tuy nhiên đang từ thuế doanh thu có 11 mức thuế suất, tất yếu không thể tránh khỏi sự chênh lệch số thuế gián thu phải nộp giữa hai loại thuế này.Những sản phẩm trước đây phải chịu thuế doanh nghiệp với mức thấp 0,5%; 1%; 2% nay lên 10% trên giá chưa có thuế, mặc dù được khấu trừ thuế đầu vào nhưng số thuế GTGT phải nộp vẫn cao hơn thuế doanh thu phải nộp trước kia rất nhiều. Vì vậy khi áp dụng thuế GTGT, một số doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về tài chính, có doanh nghiệp đang làm ăn có lãi nếu nộp đủ thuế GTGT thì bị lỗ. Chẳng hạn các doanh nghiệp chế tạo cơ khí trước đây, đang nộp thuế doanh thu từ 1%-2% ( trừ nhóm hàng điện dân dụng và lắp ráp ô tô dưới 24 chỗ có mức thuế suất 4% ) nay áp dụng thuế GTGT 10% đã gặp rất nhiều khó khăn. Để giải quyết khó khăn cho sản xuất, đồng thời thực hiện Nghị định số 18-1999/QH 10 ngày 25/11/1999 của Quốc hội khoá X Chính phủ đã ra Nghị dịnh số 102-1998/NĐ-CP tạm giảm 50% mức thuế GTGTđối với một số sản phẩm như : than đá, máy cày, máy kéo, máy bơm nước, máy công cụ, máy động lực, 7 hàng hoá chất cơ bản, khách sạn, du lịch, ăn uống, hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở các doanh nghiệp thương mại. Đến nay, nhiều doanh nghiệp đang đề nghị giảm mức thuế cho hàng hoa, dịch vụ. Đây là vấn đề rất quan trọng, cần cân nhắc thận trọng, nếu giải quyết tràn lan sẽ phá vỡ mục tiêu của cải cách thuế bước hai, không những không đẩy mạnh được công tác quản lý, hạch toán kế toán của các doanh nghiệp mà còn không có tác động khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển ảnh hương lớn tới thu ngân sách ở Trung ương cũng như ở các địa phương. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do việc sắp đặt các loại hàng hoá dịch vụ vài các nhóm thuế suất khác nhau chưa hợp lý nên dẫn tới hiện tượng một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt hàng, nghành hàng có mức thuế GTGT nộp thấp hơn so với thuế doanh thu trước đây nên có lãi lớn, ngược lại, một số doanh nghiệp sản xuất kinh doand các mặt hàng, nghành hàng có mức thuế GTGT nộp cao hơn so với mức thuế doanh thu trước đây bị lỗ lớn. Còn một số nguyên khác như khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực tác động lớn đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nước (giá hàng nhập khẩu và sản xuất hạ, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp...) trong khi sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn kém nên nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh bị lỗ, không nộp được theo mức thuế GTGT hiện hành. b/ Về quản lý sử dụng hoá đơn chứng từ. Để xác định được số thuế đầu vào, luật thuế GTGT quy định Doanh nghiệp phải có đầy đủ chứng từ hoá đơn hợp lệ, ghi rõ số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn mua hàng hoặc giá thanh toán của hàng hoá dịch vụ mua vào.Lợi dụng quy định này một số doanh nghiệp đã sử dụng hoá đơn thật để ghi “ khống ” các khoản thuế và chi phí hàng hoá dịch vụ hợp lý để khấu trừ thuế đầu ra hay tăng chi phí nhằm trốn thuế, hoán thuế.Như vậy hoá đơn là có thật nhưng hàng hoá dịch vụ thể hiện trên hoá đơn là không có thật.Kết quả kiểm tra của một số địa phương cho thấy một số cửa hàng kinh doanh xăng dầu, bán lẻ cho người tiêu dùng không cần hoá đơn ( thường chiếm khoảng 50% khối lượng ) sau đó thoả thuận với một số doanh nghiệp có nhu cầu để xuất hoá đơn “khống” cho phần xăng dầu bán lẻ. Doanh nghiệp này sử dụng hoá đơn khống để hợp lý hoá chi phí đầu vào, khấu trừ thuế đầu ra nhằm trốn thuế chia nhau. Một số cửa hàng kinh doanh vật liệu sử dụng thủ đoạn này nhằm trốn thuế GTGT. Một căn cứ để xác định thuế GTGT là giá thanh toán ( hoặc giá tính thuế ) của hàng hoá dịch vụ đầu ra. Giả định đầu vào không đổi, muốn giảm số thuế phải nộp, các doanh nghiệp có thể giảm giá đầu ra bằng cách bán hàng không xuất hoá đơn rồi khai báo là hàng tồn kho để trốn thuế. Bên cạnh đó do người tiêu dùng trực tiếp không cần hoá đơn khi mua hàng nên một số doanh nghiệp đã lợi dụng lấy hoá đơn này ghi khống giá bán hàng thấp hơn giá thực tế để giảm giá thanh toán đầu ra (hoặc giá tính thuế ) nhằm trốn thuế GTGT. Thủ đoạn này đã được sử dụng trong trốn thuế doanh thu trước đây và hiện nay vẫn tiếp tục phát triển. Không những thế những quy định về thuế suất đã tạo ra kẽ hở cho một số doanh nghiệp có sản phẩm phục vụ cho các lĩnh vực có thuế suất khác nhau có điều kiện “nhập nhằng” để trốn thuế thông qua gian lận thuế suất. Đối với hoạt động xây dựng cơ bản, việc xác định thuế GTGT đầu vào của từng công trình để khấu trừ là rất khó khăn, phức tạp, để trùng lặp trong kê khai doanh nghiệp chính và tổ đội thi công Chúng ta đều biết vì căn cứ xác định thuế GTGT đầu vào là hoá đơn, chứng từ mà các tổ đội thi công trực thuộc doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân do đó hoá đơn, chứng từ mua vật tư,hàng hoá đều do doanh nghiệp chính mua và cấp lại cho tổ đội thi công, xây dựng. Vì vậy việc kê khai và xác định thuế GTGT đầu vào đối với các công trình xây dựng khác ở địa phương gặp nhiều vướng mắc. Còn đối với nghành giao thông vận tải, theo quy định doanh nghiệp chỉ kê khai và nộp thuế phần doanh thu của người nhận khoán nộp về, còn xuất hoá đơn GTGT khi chủ hàng yêu cầu thì doanh nghiệp phải kê khai như thế nào ? Vì khi doanh nghiệp xuất hoá GTGT phải thực hiện việc kê khai thuế GTGT đầu ra nhưng lại không có cơ sở tính thuế GTGT đầu vào để xác định thuế GTGT phải nộp, xác định chi phí hợp lý để xác định thu nhập chịu thuế ? Hơn nữa đối với trường hợp khoán gọn người nhận khoán tự do kinh doanh , chỉ nộp về cho doanh nghiệp một khoản đóng góp cố định không phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của họ. Khoản thu này mang tính chất gần giống như doanh thu cho thuê phương tiện vận tải của doanh nghiệp, nhằm bù đứp cho các khoản chi phí, khấu hao phương tiện vận tải, sửa chữa lớn và một phần chi phí quản lý doanh nghiệp. Với phương thức khoán này, người nhận khoán là một chủ thể kinh doanh độc lập. c/ Việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Việc cho khấu trừ đầu vào theo một tỷ lệ ấn định đối với trường hợp không có hoá đơn GTGT đối với các mặt hàng nông, lâm, hải sản...là phù hợp với tinh thần thực tế của Việt Nam, nhưng chính đây cũng đang phát sinh những mâu thuẫn hoặc lợi dụng sơ hở chiếm đoặt tiền, trốn tránh thuế. Ban đầu việc khấu trừ này chi cho phép đối với một số cơ sở sản xuất chế biến nông, lâm, thuỷ sản của người sản xuất trực tiếp bán ra.Tuy nhiên trong quá trình thực thi thuế GTGT, do có những bất cập về chế độ thuế suất và hoá đơn, chứng từ nên diện khấu trừ “khống” đã phải mở rộng ra. Cho đến nay việc khấu trừ theo tỷ lệ % này đã thực hiện cả đối với trường hợp mua hàng có hoá đơn thông thường thì sự việc không còn chỉ dừng lại ở việc khấu trừ “ khống ”nữa . Một câu hỏi nghiêm túc đặt ra là : Thực chất của việc khấu trừ này là khấu trừ khống hay khấu trừ khoán ? Trước hết phải hiểu rằng, khống tức là không có mà vẫn có khấu trừ, còn khoán là việc cho khấu trừ theo tỷ lệ ấn định trên cơ sở đã có số thuế phát sinh ở khâu trước, song không rành mạch về mặt lượng. Như vậy khoán được thực hiện dựa trên cái có thật, còn khống là việc làm chủ quan xuất phát từ cái không tồn tại.Vì vậy, theo tôi không nên thực hiện việc khấu trừ khống. Trong các quan hệ kinh tế, không nên chấp nhận cái ảo, cái không có vì như vậy sẽ tạo ra hư số phản ánh không đúng bản chất của vấn đề, làm sai lệch những nhận định, phân tích. Đối với hàng nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35056.doc
Tài liệu liên quan