Khóa luận Xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Hồng Gia đến năm 2015

Khách hàng của Nguyễn Hồng Gia là những tổ chức doanh nghiệp có nhu cầu in ấn trên chất liệu giấy, gồm khách hàng trực tiếp và khách hàng gia công.

Lợi thế của côg ty là đã giành được uy tín đối với các khách hàng trực tiếp là các công ty lớn vơi thương hiệu có tiếng như: Công ty cổ phần Dệt May Thành Công, Bách Khoa Computer, Công ty TNHH Đồng Bằng (hộp đèn), Công ty TNHH Thái Nông (thuốc trừ sâu), Công ty Mạnh Hùng (Sx hàng thủ công mỹ nghệ – xuất khẩu sang Trung Quốc), Công ty Liên Doanh Nhựa Sunway Mario (sx về mặt hàng nhựa – xuất khẩu sang Trung Quốc), Điện Lực Tân Thuận, Điện tử Digital, Công ty trà cafe Trần Quang, Sơn Jotun, Mực in Vmax, Mực in No.đây là những khách hàng lớn, thân thiết và thường xuyên của công ty.

 

docx53 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 02/07/2013 | Lượt xem: 1700 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Xây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Hồng Gia đến năm 2015, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ại cho họ nhiều lợi nhuận hơn. b. Môi trường chính trị - Pháp luật: Việt Nam được Liên Hiệp Quốc nhận định là nước có nền chính trị ổn định nhất thế giới, tạo điều kiện, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển sản xuất, hợp tác đầu tư, thực hiện những chiến lược lâu dài tại Việt Nam. Hệ thống thủ tục hành chính tuy còn nhiều bất cập nhưng đang dần không ngừng được cải thiện tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong quá trình làm những thủ tục cần thiết. Trong những năm gần đây, với phương châm “hoà nhập chứ không hoà tan”, Đảng và Nhà Nước ta ngày càng mở rộng xu thế đối ngoại, xem tất cả các nước trên thế giới là bạn, cùng hợp tác làm ăn và phát triển mục tiêu hoà bình, độc lập như: mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, bình thường hoá quan hệ với Mỹ, mở rộng quan hệ ra các khu vực thế giới như Trung Đông, Châu Mỹ Latinh... Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi về nhà ở,xã hội...cho người nước ngoài và Việt Kiều, tạo sự an cư cho họ nhằm thu hút đầu tư, phát triển nền kinh tế. Đây là điều kiện thuận lợi cho công ty mở rộng sản xuất cũng như hướng đến các tổ chức xuất khẩu nước ngoài, thậm chí là các doanh nghiệp ngoài nước, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn. Để có được sự quan tâm từ những đối tác này đòi hỏi sản phẩm phải đạt được chất lượng và cạnh tranh về giá. Để khẳng định vị trí của mình trong lòng bạn bè thế giới, các cơ quan nhà nước cũng như Quốc hội Việt Nam đang và tiếp tục hoàn chỉnh hơn nữa các Luât mới như Luật đầu nước ngoài, Luật doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật thuế...). Trong tương lai, chính phủ sẽ ban hành Luật mới dành riêng cho lĩnh vực ngành nghề mà công ty đang kinh doanh. Đó là luật cho ngành In, hiện tại ngành in đang hoạt động theo Luật xuất bản. Tuy rằng tình hình chính trị, luật pháp đang được nhà nước quan tâm, tệ nạn tham nhũng, tham ô, hối lộ đang ngày càng được đẩy lùi từng bước nhưng vẫn còn một số khó khăn cho các doanh nghiệp nói chung cũng như công ty nói riêng là cơ cấu bộ máy nhà nước còn quá rờm rà, phức tạp, một số cơ quan gây khó dễ cho doanh nghiệp. c. Môi trường xã hội: Việt Nam xếp vị thứ 77 nước thịnh vượng trong tổng số 140 nước thế giới (Tuổi trẻ,28/10/09). Thông tin này cho thấy Việt Nam ta đang ngày một không ngừng cố gắng vươn lên những vị trí của một nước đang phát triển và phát triển trong tương lai. Những năm gần đây, thu nhập bình quân trên đầu người không ngừng được cải thiện......trình độ dân trí được nâng cao, quan điểm thẩm mỹ yêu cầu càng cao,con người càng muốn tiêu dùng những sản phẩm không chỉ chất lượng bên trong tốt mà mẫu mã, nhãn mát, bao bì phải đẹp, cao cấp, thậm chí đòi hỏi tính thời trang. Đây là cơ hội, thách thức lớn cho đội ngũ thiết kế cũng như phân xưởng của công ty, làm thế nào để chứng tỏ với người tiêu dùng sản phẩm của công ty Nguyễn Hồng Gia không thua kém bất kì đối thủ nào. Bên cạnh đó công ty cũng đã tuân thủ theo những quy định ràng buộc của ngành nghề, chú trọng quan tâm đến phong tục tập quán, tôn giáo văn hoá của từng vùng khu vực mà thiết kế sản phẩm không gây phản cảm và ấn tượng xấu cho ngưới tiêu dùng. d. Yếu tố công nghệ: Cũng như bao ngành nghề khác, yếu tố công nghệ tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến sự thành bại của doanh nghiệp. Thời đại ngày nay là thời đại khoa học kĩ thuật, doanh nghiệp nào sở hữu công nghệ tối tăm và hiện đại mà người lao động có thể tiếp nhận và vận hành được thì sẽ dành được ưu thế trên thị trường. Quan hệ đối ngoại nước ta được mở rộng, nhà nước cũng đã ban hành luật sở hữu trí tuệ,quyền tác giả... đã tạo điều kiện cho việc chuyển giao công nghệ dễ dàng,giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc sở hữu công nghệ của mình. Tuy nhiên, một yếu tố mà không ít các doanh nghiệp mắc phải sai lầm là nhập những công nghệ cao về để rồi người lao động không đủ trình độ tiếp nhận và vận hành, hoặc chi phí để đầu tư đào tạo vận hành tốt công nghệ quá cao, vì thế ma gây nên lãng phí cho doanh nghiệp. Theo các chuyên gia trong ngành in,cơ cấu các xu hướng phát triển của ngành in Thế giới được dự đoán đến năm 2010: Bảng 3: Cơ cấu xu hướng phát triển ngành in 1994 2000 2010 In Offset 47% 42% 33% In ống đồng 19% 17% 15% In Flexô 17% 19% 20% In Kĩ thuật số 3% 13% 25% In Lưới 3% 3% 3% In Typô 11% 16% 4% Nguồn: Tổng hợp từ tạp chí Asian Printing, xuất bản T9/2002 Biểu đồ 3: Cơ cấu xu hướng phát triển ngành in Đối với ngành in ấn bao bì, công nghệ hiện đại nhất mà các doanh nghiệp lớn với nguồn tài chính mạnh đang sở hữu đó là công nghệ In ống đồng. Đối với những doanh nghiệp này thì doanh nghiệp nhỏ và vừa với nguồn tài chính eo hẹp như công ty TNHH NHG thì không đủ sức cạnh tranh. Trước sự ứng dụng công nghệ vào sản xuất sản phẩm ngành in hiện rất phát triển trên thế giới cho thấy đây là rủi ro không tốt với NHG trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong tương lai. e. Yếu tố tự nhiên: Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, Ngã Ba Đông Dương, vùng có mức tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới nhưng thuộc vành đai Bắc Bán Cầu_khí hậu nhiệt đới nên chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc trước những biến đổi thất thường của khí hậu. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh (TpHCM) khí hậu có hai mùa rõ rệt là mưa và nắng. Trong những năm gần đây, khí hậu thời tiết thay đổi thất thường, lúc năng chợt mưa, nhiệt độ trung bình tại đây lên đên 34-35 độ C, nắng nóng và mưa kéo dài đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động, đến dây chuyền sản xuất, đến nguyên vật liệu ngành in bao bì trên chất liệu giấy tại công ty NHG. Bên cạnh đó việc vận chuyển cũng gặp nhiều trở ngại bởi thời tiết, trong khi đó công ty lại chưa có phân xưởng chung với điều kiện thuận lợi cho việc sản suất và in ấn dễ dẫn đến những rủi ro về hư hỏng, thất thoát sản phẩm và nghiêm trọng hơn đó là rủi ro về hoả hoạn. 2.2.1.2 Môi trường vi mô. a. Cạnh tranh các đơn vị trong ngành Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đến hướng đi, chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Ta thường tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ để đưa ra các quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp mình. Công ty TNHH NHG không đủ sức cạnh tranh với những công ty đại gia cùng ngành trong lĩnh vực in ấn các sản phẩm bao bì như: Công ty in Trần Phú, công ty cổ phần Liksin, Nhà in Quân đội, công ty cổ phần sản xuất thương mại Minh Phú, công ty Hưng phú... Đối thủ cạnh tranh của NHG là các công ty cùng ngành nhỏ và vừa như công ty In va Gia công Thành Phú, công ty In Thống Nhất, công ty In Tuổi trẻ, công ty cổ phần Đạt Thành. Ưu thế cạnh tranh của Công ty TNHH NHG so với công ty nhỏ và vừa này là máy in Offset 4 màu DaiYa, xuất xứ từ Nhật Bản mà công ty mới nhập về trong thời gian gần đây, cùng vơi dây chuyền sản xuất khép kín tự động hoá. Vơi ưu thế này, công ty sẽ thu hút được những khách hàng có nhu cầu về sản lượng không lớn mà chi phí không cao. Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc công ty phải cạnh tranh với những sản phẩm giá rẻ, mẫu mã bắt mắt của Trung Quốc. Thống kê mới đây của Hiệp hội In Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 1.200 doanh nghiệp in lớn và hơn 5.000 cơ sở in tư nhân với doanh số hàng năm trên 1 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng từ 10% - 15%/năm. Điều đó cho thấy rằng môi trường hoạt động của côgn ty đang cạnh tranh rất khốc liệt. b. Khách hàng: Khách hàng của Nguyễn Hồng Gia là những tổ chức doanh nghiệp có nhu cầu in ấn trên chất liệu giấy, gồm khách hàng trực tiếp và khách hàng gia công. Lợi thế của côg ty là đã giành được uy tín đối với các khách hàng trực tiếp là các công ty lớn vơi thương hiệu có tiếng như: Công ty cổ phần Dệt May Thành Công, Bách Khoa Computer, Công ty TNHH Đồng Bằng (hộp đèn), Công ty TNHH Thái Nông (thuốc trừ sâu), Công ty Mạnh Hùng (Sx hàng thủ công mỹ nghệ – xuất khẩu sang Trung Quốc), Công ty Liên Doanh Nhựa Sunway Mario (sx về mặt hàng nhựa – xuất khẩu sang Trung Quốc),  Điện Lực Tân Thuận, Điện tử Digital, Công ty trà cafe Trần Quang, Sơn Jotun, Mực in Vmax, Mực in No.....đây là những khách hàng lớn, thân thiết và thường xuyên của công ty. Khách hàng gia công như: Star Print, giày Hồng Thạnh, công ty truyện tranh Phan Thị... cũng là những khách hàng có tên tuổi trên thị trường. Bên cạnh những khách hàng lớn mà công ty đã đánh mất như: công ty cổ phần xuất khẩu Cẩu Tre. Công ty cổ phần nước khoáng Vĩnh Hảo, Công ty Dệt may Thành Công... thì công ty có thêm một số cơ sở sản xuất nhỏ lẻ ở Úc đặt hàng. Đây là tín hiệu đáng mừng để công ty quảng bá thương hiệu và phát triển thị trường của mình ở nước ngoài. Trong năm 2008 số lượng khách hàng của công ty là 40 khách hàng, trong đó khách hàng trực tiếp là 32, khách hàng gián tiếp là 8 khách hàng. Quí I/2009 số lượng khách hàng có tăng thêm, đối với khách hàng trực tiếp là 9, khách hàng gia công là 5, góp phần tăng doanh số lên 190 triệu đồng. Không dừng lại ở đó, công ty không ngừng phát triển thêm khách hàng mới tiềm năng, đánh mạnh ra các tỉnh lân cận, các khu công nghiệp, khu chế xuất... ở tất cả các lĩnh vực ngành nghề. Khu vực Tp HCM: 30 khách hàng thuộc các lĩnh vực may mặc, nước giải khát, hàng gia dụng... Tiền Giang: 4 khách hàng thuộc lĩnh vực nông sản và bánh kẹo, ... Bến Tre: 5 khách hàng thuộc lĩnh vực xuất khẩu đồ mỹ nghệ, sản xuất kẹo Dừa. Khu công nghiệp Đồng Nai: 20 khách hàng thuộc lĩnh vực phân bón và hoá chất. Để nâng cao doanh số và phát triển hơn nữa, công ty không ngừng tìm kiếm và liên hệ với khách hàng tiềm năng và những khách hàng mà công ty đã đánh mất để nâng cao số lượng khách hàng khi công ty tiến hành cổ phần hoá vào năm 2010. Từ đó cho thấy công ty đã không ngừng tăng số lượng khách hàng, ngày càng mở rộng thị phần của mình, đây là cơ hội tốt cho công ty phát triển trong thời gian tới. c. Nhà cung ứng. Nguyên vật liệu đầu vào của công ty do phòng vật tư đảm trách dưới sự quản lý của giám đốc, bao gồm: giấy, mực in, màu in, màng, nhũ, keo dán, keo bồi, kẽm, ...và các nguyên vật liệu phụ khác. Trong đó giấy là yếu tố chịu sự tác động và biến động theo giá cả của thị trường. Những nguyên vật liệu của công ty đang nhập chủ yếu từ chợ Lớn, các cửa hàng kinh doanh nhỏ lẻ ở quận 5 Tp HCM. Tuy công ty có kí hợp đồng với các nhà cung ứng để đảm bảo ổn định nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất khi có đơn đặt hàng của khách hàng nhưng lượng vật tư mua lẻ còn nhiều cộng với công nợ phải trả nên đôi khi ảnh hưởng nhiều đến kết quả sản xuất, giao hàng chậm trễ hơn so với kế hoạch. Mặc dù vậy nguồn nguyên vật liệu của công ty là mua hoàn toàn trong nước nên khi cần là có, giá cả phải chăng. Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho công ty. Có những đơn đặt hàng mà nguyên vật liệu do khách hàng chỉ định và thoả thuận thì công ty luôn tìm kiếm nhà cung ứng có nguồn nguyên vật liệu tốt nhất để làm hài lòng khách hàng. d. Sản phẩm thay thế. Sản phẩm của công ty là bao bì giấy và nguyên vật liệu chủ yếu là giấy nên dễ phân huỷ sau khi sử dụng và còn được tái chế sử dụng lại. Trước đây, các chuyên gia môi trường cũng đã từng dự báo rằng tương lai nhựa Nylon (phải mất hàng chục năm, trăm năm, thậm chí cả ngàn năm mới phân huỷ ) sẽ dược thay được thay thế bằng vật liệu giấy. Nhưng với thời đại khoa học kĩ thuật như ngày nay, công nghệ chế tạo nhựa Nylon tự huỷ( có thể tự huỷ trong 3 tháng) đã được ứng dụng tại Công ty cổ phần văn hoá Tân Bình (ALTA) cách đây hai năm, vì vậy có thể trong tương lai những sản phẩm bao bì từ nhựa sẽ thay thế ngược lại những sản phẩm từ giấy vì tính thuận lợi và tiện ích của nó. Đây là thông tin dự báo tương lai xa nên hiện tại không ảnh hưởng nhiều đến những doanh nghiêp; giấy. 2.2.2 Phân tích môi trường bên trong của công ty. Phân tích môi trường bên trong là công việc cần thiết và quan trọng, giúp nhà quản trị nhìn nhận và xem xét doanh nghiệp của mình đang có những nguồn lực nào, hay những yếu kém nào và tìm giải pháp khắc phục nó. 2.2.2.1 Quản trị. Nhà quản trị là người nắm vững mọi hoạt động trong nội bộ của công ty. Một tổ chức thành công đòi hỏi phải có sự đoàn kết, thống nhât và giúp để nhau giữa các bộ phận, các phòng ban trong tổ chức đó. Và công ty TNHH NHG cũng không ngoại lệ nếu muốn thành công. Công ty có sư phân trách nhiệm rõ ràng giữa các phòng ban: Giám đốc: trực tiếp điều hành công ty, tổ chức cán bộ, bộ máy quản lý, ra các quyết định khen thưởng, kĩ luật, phê diệt các hợp đồng kinh tế, giải quyết các vấn đề liên quan đến tài chính kế toán, chịu trách nhiệm trước pháp luật về trách nhiệm và quyền hạn của mình... Phó giám đốc: điều hành công ty khi Giám đốc vắng mặt, chỉ đạo trực tiếp, đưa ra các kế hoạch, chỉ tiêu cho phòng kinh doanh và truyền đạt những quyết định của Giám đốc, bảo đảm quyền lợi của nhân viên dưới quyền. Quản đốc: thừa hành quyền hạn của Giám đốc trong giới hạn phân xưởng. cai quản và trông coi phân xưởng, lên kế hoạch sản xuất, tổ chức, kiểm tra, đôn đốc công nhân để hoàn thành mục tiêu công việc. Các phòng Kinh Doanh, Kế Toán, Thiết Kế, Vật Tư, Phân Xưởng có trách nhiệm hoàn thành công việc trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ngoài ra công ty cũng đã áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuât như công nghệ thông tin vào việc quản lý tài chính kế toán bằng hệ thống tin học, khai thác tốt và sử dụng internet có hiệu quả trong việc bán hàng, tìm kiếm khách hàng mới, truyền tải dữ liệu về sản phẩm.. Với mạng điện thoại toàn công ty giúp cho việc liên lạc giữa các phòng ban đọc thuận lợi, dễ dàng và tiết kiệm thời gian, thông tin từ cấp trên truyền đạt xuống dưới nhanh chóng. Tuy nhiên tình hình sản xuất kinh doanh ngày càng được mở rộng và nâng cao, do đó với hai line điện thoại như hiện tại thì việc liên lạc với khách hàng và đối tác còn nhiều trở ngại do kẹt line, đây là vấn đề nhỏ nhưng lại quan trọng đối với công ty vì sự liên lạc chính đối với khách hàng của công ty chủ yếu là qua điện thoại. Nhìn chung mô hình quản trị của công ty tương đối tốt. 2.2.2.2 Marketing. a. Giá cả Giá cả là một trong bốn yếu tố quan trọng của maketing. Nó không chỉ đóng vai trò quan trọng trong những quyết định mua hàng của người tiêu dùng mà còn quyết định trong việc cạnh tranh trên thị trường. Việc định giá liên quan đến rất nhiều yếu tố như: + Mục tiêu của doanh nghiệp cần đạt được là gì? Định giá đề tồn tại, định giá để tối đa hoá lợi nhuận hay dẫn đầu về thị phần và chất lượng sản phẩm (chi phí thấp, sản phẩm có tính khác biệt). + Chi phí: định phí, biến phí, tổng phí. + Độ co dãn cung cầu Nếu độ co dãn >1 thì giảm giá để tăng doanh thu. Nếu độ co dãn <1 thì tăng giá để tối đa hoá lợi nhuận. + Đối thủ cạnh tranh. + Khách hàng tình hình kinh tế... Riêng đối với công ty TNHH NHG việc định giá dựa vào nhiều yếu tố sau: Chi phí, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu ( mực, giấy in, phim, in froof, các giai đoạn thành phẩm, ...) thuế VAT, chi phí rủi ro. Gía bán= giá thành+ % lợi nhuận+ thuế VAT. Cách tính giá như vậy đối với một công ty vừa và nhỏ như công ty TNHH NHG thì tương đối ổn định, vừa mang lại doanh thu cho công ty, vừa cạnh tranh được với các đối thủ (giá không cao, không thấp hơn so với đối thủ) và mang lại sự hài lòng cho khách hàng. Để nâng cao doanh thu, khai thác hiệu quả dây chuyền sản xuất mới, công ty đang giảm giá lĩnh vực in gia công nhằm thu hút khách hàng tiềm năng. b. Phân phối sản phẩm Do đặc trưng của ngành, sản phẩm là in nên công ty TNHH NHG không có hệ thống phân phối như các ngành nghề khác. Công ty bán hàng trực tiếp thông qua đội ngũ tiếp thị, quảng cáo, đó là nhân viên kinh doanh. Đội ngũ này trực tiếp, chủ động phát triển khách hàng. c. Sản phẩm Sản phẩm của công ty thuộc lĩnh vực thiết kế, in ấn, bao gồm: Ấn phẩm văn phòng: bao thư, giấy tiêu đề, doanh thiếp, sổ sách văn phòng. Ấn phẩm quảng cáo: catologue, poster, folder, cờ treo, tờ gấp, tờ rơi. Lịch, sách, thiệp, tạp chí, nhãn hiệu, nhãn decal, tem treo. Bao bì, hộp giấy, túi giấy ghép màng nhôm. Thùng carton in offset, bồi hai lớp, ba lớp, năm lớp (sóng E,B,A) Các loại hộp bao bì cao cấp trên chất liệu giấy Metallized dùng trong các ngành thực phẩm, dược phẩm, bánh kẹo, rượu... Sản phẩm hộp giấy cứng cao cấp. Sản phẩm của công ty rất phong phú và đa dạng, tất cả những sản phẩm nào liên quan đến in ấn trên chất liệu giấy công ty đều đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Nhóm sản phẩm mới mà công ty sắp tung ra thị trường sau khi công ty cổ phần hoá là hộp bìa cứng dành cho thị trường cao cấp: hộp quà tặng, bóp da, hộp thắt lưng, hộp cà vạt, hộp rượu, hộp trà, ... được sản xuất với dây chuyền tự động và khép kín. Dự báo dòng sản phẩm này sẽ mang lại va nâng cao hơn nhiều lợi nhuận của công ty khi chuyển hình thức sở hữu. d. Chiêu thị Chiến lược chiêu thị bao gồm bốn yếu tố: quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ cộng đồng và bán hàng cá nhân. Trong bốn yếu tố trên thì công ty chỉ mới chú trọng và phát huy yếu tố bán hàng cá nhân. Số lượng nhân viên kinh doanh còn hạn chế nhưng lai có kinh nghiệm bán hàng, khả năng thuyết phục khách hàng cao, thường xuyên giữ mối quan hệ liên lạc với khách hàng nên mang lại lợi nhuận ổn định cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề ở đây yêu cầu và đòi hỏi nhân viên không ngừng nâng cao nghiệp vụ bán hàng nếu muốn tồn tại và phát triển trên thị trường. Khách hàng của công ty là những công ty quảng cáo, công ty phục vụ cho những công ty quảng cáo nhưng để quảng cáo chính mình thì công ty chưa thực hiện được. Về quảng cáo, công ty chưa chú trọng lắm vấn đề quảng cáo trong thời gian qua bởi hai nguyên nhân là kinh phí cho quảng cáo eo hẹp (50 triệu đồng/ năm) và công ty chưa có đội ngũ đảm công việc này. Vì vậy công ty có thể tăng cường các hình thức quảng cáo khác (thư ngỏ, catologue, gọi điện thoại...) Tóm lại: Maketing Mix là hoạt động không thể thiếu ở mỗi doanh nghiệp, sự phối hợp nhịp nhàng giữa 4P (Price, Product, Place, Promotion) mang lại lợi thế cho công ty, giúp công ty đứng vững trên thị trường, tuy vậy công ty TNHH NHG từ trước đến nay vẫn chưa có hình thức quảng bá sản phẩm nào cũng như thương hiệu của mình trên thị trường, và bộ phân chuyên trách về nghiên cứu thị trường vẫn chưa có đối với một công ty nhỏ và vừa như công ty chủ yếu là phó giám đốc và nhân viên kinh doanh kiêm luôn việc này. Để chuẩn bị cho sự ra đời của sản phẩm mới, công ty đã nhận thấy được tầm quan trọng của chiến lược marketing đối với việc mở rộng thị phần cho nên bước đầu đã được đầu tư làm PR, in Catologue quảng cáo sản phẩm. 2.2.2.3 Hệ thống sản xuất. Công ty có những máy móc thiết bị sau: Máy 2 màu nhỏ: in khổ 43 x 65 ( khổ nhỏ nhất là 28). Máy 2 màu lớn:in khổ 65 x 67 ( khổ nhổ nhất là 36). Máy 4 màu hiệu Mishubishi; in khổ 65 x 97 ( khổ nhỏ nhất 36). Với 3 máy này công nghệ đã cũ cho nên sản xuất còn tốn nhiều chi phí. Công ty đã đầu tư mua máy Daiya 4 màu mới với công nghệ Nhât, khổ in 72x 102 (khổ nhỏ nhất là 36), công suất lớn tuỳ thuộc vào số lượng đặt hàng của khách. Với máy này công ty sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, và nâng cao chất lượng của sản phẩm và đáp ứng được nhiều nhu cầu của khách hàng đối với những sản phẩm có kích thước lớn, chất lượng cao… Bế, cắt, dán, cáng màng,… Giao hàng Thanh toán Phân xưởng Thành phẩm Phân xưởng In Thành phẩm Phơi kẽm Sản xuất Hàng in ( bán thành phẩm) In ấn Khách hàng Hợp đồng Xuất phim Chuyển mẫu Báo giá Khách hàng Duyệt mẫu thiết kế, NVL Thiết kế mẫu Nhận thông tin Hình 10: Qui trình sản xuất công ty TNHH NHG Nguồn: Phân xưởng công ty TNHH NHG Vạch ra một mô hình sản xuất khá rõ ràng giúp công ty dễ dàng kiểm tra chất lượng sản phẩm, dễ dàng phát hiện rũi ro sai sót ở khâu nào trong quá trình sản xuất, kiểm soát rủi ro, những rủi ro có thể gặp trong quá trình sản xuất. Việc giám sat, kiểm tra, đôn đốc tại phân xưởng In khá dễ dàng thuận lợi và mất ít thời gian vì nằm tại công ty. Tuy nhiên vì công ty chưa có diện tích riêng, phân xưởng In và phân xưởng Thành phẩm không gần nhau nên việc vận chuyển hàng đến phân xưởng thành phẩm, bán thành phẩm còn mất nhiều thời gian, tăng chi phí. Mặc khác, phân xưởng thành phẩm chác xa công ty nên việc giám sát chất lượng còn buông lỏng, sự kết hợp giữa hai phân xưởng chưa thật tốt dẫn đến bên phân xưởng thành phẩm phát hiện nữa thành phẩm sai nhưng vẫn tiến hành các công đoạn thành phẩm nên sản phẩm không đạt chất lượng yêu cầu sản phẩm bị khách hàng trả về thường xuyên. Vấn đề này gây tổn thất rất nhiều chi phí cho công ty. Kết quả đó cũng một phần ý thức trách nhiệm trong công việc của nhân viên chưa cao, do tay nghề của công nhân ở phân xưởng chưa được đề cao. Sự phối hợp giũa các khâu chưa nhịp nhàng do thiếu nhân lực, hạn chế về trình độ… Với công nghệ hiện tại công ty sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn so với các công ty cùng ngành nhỏ và vừa. tuy nhiên công ty cần giảm thiểu bớt rủi ro trong quá trình sản xuất. 2.2.2.4 Tài chính kế toán. Trong thời đại kinh tế ngày càng phát triển, với chính sách mở cửa, hoà nhập, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt. Trước thực tế như vậy thì yếu tố tài chính của mỗi công ty xem là ưu thế cạnh tranh lớn nhất. Hơn nữa một chiến lược của công ty vạch ra muốn thực hiện thì nguồn tài chính phải đảm bảo để thực hiện chiến lược đó. Bảng 4: Tình hình tài chính công ty TNHH NHG: ( ĐVT: đồng) 2007 2008 Tỷ lệ % Doanh thu Lợi nhuận Nguyên giá bình quân TSCĐ Tổng TSLĐ Tổng vốn sử dụng bình quân Vòng vay vốn lưu động Suất sinh lời trên tài sản Suất sih lời trên vốn chủ sở hữu 4.541.370.000 142.367.709 34.776.313 2.768.950.121 1.701.328.608 1.62l/n 0.05 0.031 5.142.349.000 160.132.045 59.793.716 3.462.976.253 1.325.793.869 1.46l/n 0.046 0.03 113 112 172 125 96.5 90.12 92 Nguồn: Phòng tài chính kế toán công ty TNHH NHG Vòng vay vốn lưu động 2008 là 1,46 nhỏ hơn vòng vốn lưu động 2007 (1.64 ) là 0.16 lần. Công ty cần phải xem lại yếu tố này bởi vòng vay vốn lưu động càng nhanh, thời gian luân chuyển vốn càng ngắn, vòng vay càng nhiều hiệu suất lưu động vốn càng cao. Do đó, theo số liệu này thì vòng luân chuyển vốn của công ty 2008 thấp hơn 2007, hiệu quả tiết kiệm vốn sữ dụng chưa cao.Nếu vốn năm 2009 tăng cao hơn so với 2008 thì công ty có thể rút bới một phần vốn khỏi vòng luân chuyển để giải quyết các yêu cầu khác của công ty. Tốc độ tăng lợi nhuận hằng năm 13.23% cho thấy mức sinh lời của công ty chưa cao, bình quân một đồng công ty bỏ ra thu lại được 0.1323 đồng lời. Chỉ tiêu này khá quan trọng vì nhà đầu tư muốn góp vốn vào công ty thì họ dánh giá rất cao chỉ tiêu này. Suất sinh lời trên tài sản năm 2007 là 0.05 (5%), năm 2008 là 0.046(4.6%), cho thấy hiệu quả sữ sụng tài sản của doanh nghiệp năm 2008 giảm so với 2007, hiệu quả này chưa cao. Một đơn vị tài sản bình quân được sử dụng mang lại hiệu quả rất nhỏ. Một yếu tố nữa cũng được các nhà đầu tư chú trọng và rất có ý nghĩa đối với chủ sở hữu là khả năng sing lời của vốn trên chủ sở hữu, yếu tố này được đánh giá dựa vào Lợi nhuận / Vốn chủ sở hữu. Đối vơi công ty, tỷ lệ này cho thấy nó không có sức hấp dẫn nếu các nhà đầu tư muốn đầu tư…. Tỷ lệ nợ phải thu so vơi số nợ phải trả là 87.38%, tỷ số này nhơ hơn 1, phăn ánh vốn công ty bị chiếm dụng nhỏ hơn vốn công ty chiếm dụng cho thấy tình hình tài chính công ty không lành mạnh. Qua những số liệu phân tích tình hình tài chính ở trên giúp ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh của công ty THNN NHG, mặc dù hàng năm kinh doanh có lời nhưng ở mức chưa cao, chưa đạt hiệu quả mong muốn. Tài chính không đảm bảo khả năng chi, bấp bênh và nhiều rủi ro. Trên góc nhìn tổng thể như vậy đòi hỏi công ty phải xem lại hiệu quả kinh doanh của mình và khắc phục tình hình tài chính hiện tại. KẾT LUẬN CHƯƠNG II Thông qua việc tìm hiểu về quá trình hình thành và hoạt động công ty, nghiên cứu, phân tích các yếu tố bên trong cũng như bên ngoài của công ty. Giúp ta nhận thấy được những mặt mạnh và mặt yếu của công ty trong mối quan hệ tương tác với những cơ hội và nguy cơ của môi trường bên ngoài. Để từ đó xây dựng một chiến lược phát triển cho công ty trong thời gian tới. Trước sự phát triển không ngừng cùng với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế nói chung cũng như ngành in nói riêng thì việc bị đào thải khỏi thị trường là tấc yếu nếu doanh nghiệp không biết được mình đang đứng ở vị trí nào trên thị trường. Doangh nghiệp cần biết mình đang có những thế mạnh cũng như những nguồn lực gì để khai thác một cách triệt để khi cơ hội đến. Đồng thời cũng hạn chế và khắc phục những mặt mình còn yếu kém và né tránh được những rủi ro từ môi trường bên ngoài. CHƯƠNG III: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG TY TNHH NGUYỄN HỐNG GIA ĐẾN NĂM 2015 VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC. 3.1 MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY. 3.1.1 Mục tiêu dài hạn. Trong vòng 10 năm tới phấn đấu để được lên sàn giao dịch chứng khoán Tp HCM, tức là công ty phải phấn đấu để có nguồn vốn vuợt mức 5 triệu USD( khoản hơn 80 tỷ đồng Việt Nam) sau khi cổ phần hóa,mức này có thể thay đổi khi nền kinh tế ngày càng phát triển và có nhiều biến động. Nâng cao doanh số. Khách hàng sẽ biết nhiều hơn về uy tín và chất lưọng của công ty khi nhắc đến thương hiệu TNHH NHG 3.1.2 Mục tiêu cụ thể. Trong năm 2010 tiến hàn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxXây dựng chiến lược phát triển công ty TNHH Hồng Gia đến năm 2015.docx