Luận văn Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Phú Thọ: Thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC

 

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2001-2007 4

I. TỔNG QUAN VỀ TỈNH PHÚ THỌ 4

1. Môi trường đầu tư tỉnh Phú Thọ 4

1.1. Điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển Kinh tế - Xã hội 4

1.2. Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội của Phú Thọ 9

1.3. Môi trường đầu tư tỉnh Phú Thọ 18

2. Vài nét về hoạt động đầu tư phát triển tại Phú Thọ giai đoạn 2001-2007 21

2.1. Bối cảnh chung 21

2.2. Tình hình huy động vốn đầu tư phát triển tại Phú Thọ 27

2.3. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển 29

2.4. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển 32

II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2001-2007 34

1. Sự cần thiết phải thu hút FDI tại Tỉnh Phú Thọ 34

2. Các nhân tố tác động tới thu hút vốn FDI tại Tỉnh Phú Thọ 37

3. Các biện pháp thu hút FDI đã thực hiện tại Phú Thọ 39

3.1. Xúc tiến đầu tư nước ngoài 39

3.2. Tiếp nhận, thụ lý và cấp phép các dự án FDI 39

3.3. Chế độ ưu đãi và hỗ trợ triển khai FDI 40

4. Quy mô thu hút FDI tại Phú Thọ 44

5. Cơ cấu vốn FDI tại Phú Thọ 48

5.1. Theo hình thức đầu tư 48

5.2. Theo đối tác 49

5.3. Theo địa bàn đầu tư 50

5.4. Theo ngành, lĩnh vực 52

6. Triển khai các dự án FDI tại Phú Thọ 53

6.1. Mức độ hoàn thành công việc 53

6.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 54

6.3. Hoạt động của doanh nghiệp FDI 56

III. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2001-2007 59

1. Các kết quả đạt được 59

1.1. Thu hút FDI 59

1.2. Triển khai các dự án FDI 61

2. Các hạn chế và nguyên nhân 62

2.1. Thu hút FDI 62

2.2. Triển khai các dự án FDI 66

CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ TRIỂN KHAI VỐN FDI TẠI TỈNH PHÚ THỌ 69

I. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU THU HÚT FDI CỦA TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2008-2020 69

1. Định hướng phát triển Kinh tế-Xã hội của Tỉnh Phú Thọ 69

1.1. Các chỉ tiêu Kinh tế - Xã hội cơ bản tới 2020 69

1.2. Huy động vốn đầu tư tới 2020 76

2. Quan điểm về thu hút FDI 78

2.1. Xác định FDI là nguồn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư trong nước 78

2.2. Đa dạng hóa các đối tác đầu tư nước ngoài 79

2.3. Thu hút FDI đi kèm ổn định chính trị và xã hội 79

3. Định hướng thu hút FDI 80

3.1. Ưu tiên lĩnh vực công nghiệp chế biến và công nghệ cao 80

3.2. Thu hút có chọn lọc FDI vào khu vực dịch vụ 81

3.3. Ưu tiên đầu tư vào xây dựng hạ tầng KCN,CCN 81

3.4. Ưu tiên dự án vốn lớn và công nghệ hiện đại 82

4. Quan điểm triển khai các dự án FDI 83

4.1. Chủ động tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư 83

4.2. Khuyến khích các doanh nghiệp FDI mở rộng sản xuất và tạo điều kiện chuyển đổi hình thức đầu tư 83

4.3. Đầu tư phát triển hạ tầng KCN-CCN 84

5. Mục tiêu thu hút FDI tới 2020 85

5.1. Tổng quan về thu hút FDI đến 2020 85

5.2. Danh mục các dự án thu hút FDI chủ yếu đến 2020 86

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ TRIỂN KHAI VỐN FDI TẠI TỈNH PHÚ THỌ 89

1. Một số giải pháp chung 89

2. Giải pháp thu hút vốn FDI 90

2.1. Quy mô vốn FDI 90

2.2. Cơ cấu vốn FDI 95

3. Giải pháp triển khai các dự án FDI 97

3.1. Mức độ hoàn thành công việc 97

3.2. Thực hiện vốn FDI 98

3.3. Hoạt động của doanh nghiệp FDI 100

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 102

1. Với nhà nước 102

2. Với tỉnh Phú Thọ 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 107

 

 

docx114 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 10/06/2013 | Lượt xem: 528 | Lượt tải: 12download
Tóm tắt tài liệu Luận văn Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Phú Thọ: Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
2 và nhóm 3 là các dự án nhỏ hơn, có mức bình quân vốn đầu tư trên một dự án thấp nhất, chỉ hơn 3 triệu USD/1 DA. Tổng số các dự án đã sản xuất kinh doanh (kể cả những dự án vẫn tiếp tục đầu tư), đã đóng góp cho ngân sách nhà nước là 36 dự án, tương đương với 47,37%, đóng góp cho ngân sách nhà nước 78 tỷ đồng riêng trong năm 2007. 6.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư Trong giai đoạn 2001-2007, tổng lượng vốn FDI thực hiện của Phú Thọ đạt 203,44 triệu USD, tương đương với 57,58% so với tổng lượng vốn đăng ký. So sánh với Việt Nam: Ta thấy tỷ trọng này là cao hơn mức thực hiện bình quân 42,44% của Việt Nam (Việt Nam giai đoạn 2001-2004 thu hút được 53.025 triệu USD vốn đăng ký và 22.502 triệu USD vốn thực hiện). Để nghiên cứu cụ thể mối liên hệ tương quan giữa lượng vốn FDI đăng ký với lượng vốn FDI thực hiện của Phú Thọ qua các năm, chúng ta xem xét bảng số liệu sau: Bảng I.18: FDI thực hiện tại Phú Thọ giai đoạn 2001-2007 STT Năm FDI đăng ký (trUSD) FDI thực hiện (trUSD) 1 2001 5,00 2,12 2 2002 40,03 20,86 3 2003 143,27 118,22 4 2004 50,99 30,04 5 2005 27,04 14,06 6 2006 19,30 7,45 7 2007 67,71 9,89 Tổng số 353,34 203,44 Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ Qua bảng I.18 ta thấy năm 2001 là năm chỉ thu hút được 1 dự án FDI và lượng vốn FDI thực hiện cũng đạt thấp nhất trong giai đoạn là 2,12 tỷ USD, tương đương 42,40%. Tuy nhiên năm 2007 mới là năm có tỷ lệ thực hiện FDI đạt mức thấp nhất, chỉ là 14,61%, nguyên nhân là do có nhiều dự án mới được đăng ký ở trong năm 2007 nhưng chưa kịp triển khai thực hiện ngay trong năm. Năm 2003 là năm đỉnh điểm trong thực hiện FDI khi lượng FDI thực hiện là 118,22 triệu USD, tỷ lệ thực hiện lên tới 82,51%. Chỉ riêng lượng FDI thực hiện ở trong năm 2003 đã xấp xỉ một nửa tổng lượng FDI thực hiện trong 7 năm từ năm 2001-2007. Biểu I.17: FDI thực hiện tại Phú Thọ giai đoạn 2001-2007 (Đơn vị: Triệu USD) Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ Qua biểu I.17, chúng ta thấy giữa lượng vốn FDI đăng ký và vốn FDI thực hiện của Phú Thọ dường như có sự tương đồng chặt chẽ với nhau qua các năm. Ngoài năm 2007 ra thì hầu như cứ năm nào có lượng FDI đăng ký đạt mức cao là năm đó lại có tỷ lệ FDI thực hiện đạt mức cao tương ứng. 6.3. Hoạt động của doanh nghiệp FDI Tình hình sử dụng lao động Lao động Việt nam đang làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang hoạt động đến thời điểm tháng 12/2007 là 15.089 người. Lao động đã qua đào tạo ở trường lớp và ở tại doanh nghiệp đạt 93%. Lao động trực tiếp sản xuất có 14.055 người, chiếm 93,1%; Lao động quản lý có 564 người, chiếm 3,7%; Lao động dịch vụ có 470 người, chiếm 3,1% so với tổng số lao động (Xem bảng I.19). Bảng I.19: Tình hình sử dụng lao động tại doanh nghiệp FDI Phú Thọ (2001-2007) STT Chỉ tiêu Số lượng (người) Tỷ lệ (%) 1 Tổng số lao động 15.089 100,0 2 Lao động đã qua đào tạo 14.033 93,0 3 Lao động trực tiếp 14.055 93,1 4 Lao động quản lý 564 3,7 5 Lao động dịch vụ 470 3,1 Nguồn: Báo cáo tổng kết, đánh giá 20 năm hoạt động ĐTNN tại Phú Thọ - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ năm 2007 Như vậy tỷ lệ lao động đã qua đào tạo (cả đào tạo tại trường lớp và đào tạo tại doanh nghiệp) của doanh nghiệp FDI là khá cao. Lao động trực tiếp chiếm đa số (93,1%) là do các doanh nghiệp FDI chủ yếu đầu tư sản xuất vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến cần rất nhiều lao động trực tiếp. Tại các doanh nghiệp FDI, mức thu nhập bình quân từ trên 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng/ tháng. Nhìn chung thu nhập bình quân tháng của công nhân khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn thu nhập của công nhân trong các doanh nghiệp của tỉnh, điều kiện đảm bảo lao động tốt hơn nhưng cường độ và thời gian lao động cao và nhiều hơn. Tuy nhiên vấn đề giáo dục định hướng cho người lao động còn hạn chế, vai trò của các tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn yếu. Ý thức và nhận thức của người lao động trong doanh nghiệp FDI không được đầy đủ, cộng với khó khăn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và vi phạm của chủ doanh nghiệp đã gây ra một số tình trạng bỏ việc và đình công. Công nghệ và quản lý Công nghệ: Khoảng 70% các dự án đầu tư hiện tại thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ, tập trung chủ yếu là ngành may mặc, dệt nhuộm, giầy da, sản xuất hạt nhựa và sản phẩm từ nhựa, chế biến nông sản thực phẩm, số còn lại là các dự án về lĩnh vực hoá chất phụ tùng ngành dệt may, bao bì container, đá lát nền, chế biến giấy. Chỉ có 01 dự án sản xuất máy vi tính và vô tuyến điện tử. Xét về mặt tổng thể, trình độ công nghệ hiện tại của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài so với các doanh nghiệp trong tỉnh có khá hơn, nhưng so với cả nước chỉ ở mức trung bình. Trình độ quản lý: Các doanh nghiệp FDI có trình độ quản lý khá hơn các doanh nghiệp trong tỉnh. Hệ thống quản lý được tổ chức khoa học và bài bản, gọn nhẹ, cụ thể, chi tiết, có quy trình, quy phạm rõ ràng ở tất cả các khâu. Các vị trí công tác được tiêu chuẩn hoá đúng người, đúng việc. Tổ chức văn phòng tinh giảm, tổ chức lao động hợp lý, tổ chức sản xuất khoa học và hiệu suất cao hơn. Tiêu thụ sản phẩm Khoảng 80 - 85 % sản phẩm của các doanh nghiệp FDI là xuất khẩu. Trong khi năm 2001 kim nghạch xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI chỉ chiếm 56,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh thì đến 2007 đã là 70,4 % giá trị kim ngạch xuất khẩu. Các nhóm hàng dệt may, nhựa, da giầy, chè tỷ lệ xuất khẩu khoảng 80 - 90 %; nhóm sản phẩm gỗ nội thất, thực phẩm, tỷ lệ xuất khẩu 30 - 40 %. Nhóm sản phẩm hoá chất dệt, phụ tùng dệt may chủ yếu phục vụ các doanh nghiệp dệt trong tỉnh. Thị trường tiêu thụ tập trung ở 3 thị trường chính, xuất khẩu về chính quốc khoảng 60% đối với phần lớn sản phẩm của các doanh nghiệp Hàn quốc và Nhật bản, xuất khẩu vào thị trường EU và Mỹ khoảng 30% và tiêu thụ tại Việt nam 10%. Sản xuất kinh doanh Giai đoạn 2001-2007, tuy đã gặp phải không ít khó khăn và vướng mắc song các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh đã nỗ lực sản xuất kinh doanh và đạt nhiều kết quả đáng khích lệ: Tổng giá trị sản xuất trong cả giai đoạn đạt mức 14.753 tỷ đồng, chiếm 27,82% tổng giá trị sản xuất của cả tỉnh (Xem bảng I.20). Bảng I.20: Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI tại Phú Thọ (2001-2007) STT Chỉ tiêu Đơn vị Giai đoạn 2001-2007 1 Tổng giá trị sản xuất Tỷ đồng 14.753 2 Tỷ trọng giá trị sản xuất % 27,82 3 GDP Tỷ đồng 3.574 4 Tỷ trọng GDP % 12 5 Tỷ trọng đóng góp ngân sách % 10 6 Tỷ trọng kim ngạch XNK % 70,4 7 Tốc độ tăng giá trị sản xuất %/ năm 16 8 Tốc độ tăng kim ngạch XNK %/ năm 16,8 Nguồn: Báo cáo tổng kết, đánh giá 20 năm hoạt động ĐTNN tại Phú Thọ - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ năm 2007 Riêng trong năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp FDI đạt 839,6 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 16%. GDP của các doanh nghiệp FDI trong 7 năm đạt 3.574 tỷ đồng, chiếm 12% GDP toàn tỉnh. Các doanh nghiệp FDI cũng đóng góp 10% vào tổng thu của ngân sách tỉnh. Sở dĩ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tỷ trọng giá trị sản xuất lớn nhưng đóng góp vào ngân sách lại tương đối hạn chế là bởi vì tỉnh đã áp dụng các chính sách ưu đãi đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó có các điều kiện miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp khá ưu đãi. Các doanh nghiệp FDI chiếm tới 70,4% giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn tỉnh, nguyên nhân là đa số các doanh nghiệp này sản xuất sản phẩm tại tỉnh rồi xuất khẩu sản phẩm sang nước thứ ba, thường là chính quốc. Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu riêng năm 2007 đạt 25,7 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân năm trên 16%. Đến hết năm 2007 trên địa bàn tỉnh đã có 33 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi, bằng 70,2% tổng số doanh nghiệp, 12 doanh nghiệp không lãi nhưng không lỗ bằng 25,5% doanh nghiệp, 1 doanh nghiệp lỗ bằng 2,07% doanh nghiệp, 1 doanh nghiệp phá sản. Trừ số doanh nghiệp được cấp phép đầu tư năm 2007 và các doanh nghiệp phải thu hồi giấy phép đầu tư do không có khả năng thực hiện dự án, các doanh nghiệp còn lại cơ bản đã hoàn thành đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất đã tương đối ổn định, có thị trường tiêu thụ sản phẩm. Do vây, xu hướng tăng vốn mở rộng sản xuất đã được các doanh nghiệp lựa chọn, các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch năm 2008 đều tăng từ 12% đến 29% ở các chỉ tiêu sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu và nộp ngân sách. III. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2001-2007 1. Các kết quả đạt được 1.1. Thu hút FDI Quy mô vốn FDI Trong giai đoạn 2001-2007, tỉnh Phú Thọ đã đạt được một số thành tựu nhất định trong việc thu hút các dự án FDI vào địa bàn tỉnh. Tổng vốn đăng ký giai đoạn này là 353,34 triệu USD, chiếm 27,24% tổng vốn đầu tư của cả tỉnh, đã và đang trở thành nguồn bổ sung vốn quan trọng cho nền kinh tế. Tổng số dự án là 76 dự án, trong đó đã xuất hiện một số dự án lớn như dự án kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp và khu đô thị dịch vụ của Hàn Quốc với số vốn đầu tư là 43,10 triệu USD. Hiện nay, so với cả nước, Phú Thọ xếp thứ 22 về thu hút đầu tư FDI và dẫn đầu các tỉnh miền núi phía Bắc. Biểu I.18: So sánh quy mô FDI của Phú Thọ với Bắc Ninh giai đoạn 2001-2007 (Đơn vị: Triệu USD) Nguồn: Báo cáo tổng kết, đánh giá 20 năm hoạt động ĐTNN tại Phú Thọ - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ năm 2007 Quy mô thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhìn chung là tăng lên qua các năm. Trong khi năm 2001 mới chỉ thu hút được 1 dự án với vốn đăng ký là 5,00 triệu USD thì sang năm 2007 đã có 15 dự án đăng ký với lượng vốn là 67,71 triệu USD. Đặc biệt năm 2003 thu hút được tới 21 dự án với tổng số vốn là 143,27 triệu USD. Qua biểu I.18, chúng ta thấy trong hầu hết các năm từ 2001 đến 2007, FDI đăng ký của Phú Thọ đều vượt trội so với Bắc Ninh. Đặc biệt trong năm 2003, lượng FDI đăng ký của Phú Thọ gấp 14 lần FDI đăng ký tại Bắc Ninh. Trong 2 năm 2005 và 2006, FDI của Phú Thọ suy giảm mạnh và để Bắc Ninh vượt qua. Tuy nhiên, sang năm 2007, FDI của Phú Thọ lại tăng mạnh và vượt qua Bắc Ninh. Xét trong cả giai đoạn, lượng FDI đăng ký của Phú Thọ lớn gấp 2,26 lần lượng FDI đăng ký của Bắc Ninh. Nhìn chung các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu hút phù hợp với quy hoạch và định hướng đầu tư của tỉnh. Việc cấp giấy phép đầu tư đã hướng tập trung vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và tận dụng các quỹ đất theo quy hoạch ngoài các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; có chú trọng đến các địa bàn theo định hướng phát triển kinh tế của tỉnh. Việc quản lý trước và sau khi cấp giấy phép đầu tư nói chung chặt chẽ, có sự theo dõi thường xuyên, tạo điều kiện để các nhà đầu tư thực hiện dự án. Cơ cấu vốn FDI Theo hình thức đầu tư: Phú Thọ đang đạt được sự cân bằng giữa hai hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Các dự án liên doanh giữa đối tác nước ngoài và doanh nghiệp trong tỉnh đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây và tập trung vào các dự án tương đối lớn. Theo đối tác đầu tư: Phú Thọ đã và đang tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư ở khu vực Đông Á, được biết đến như là một địa điểm đầu tư an toàn với nguồn nhân lực dồi dào, được đào tạo và chi phí nhân công rẻ so với các địa phương khác ở khu vực phía Bắc. Đặc biệt là Hàn Quốc đã có 63 dự án, chiếm 82,89% và số vốn lên tới 321,98 triệu USD chứng tỏ Phú Thọ đã tạo ra được các ấn tượng sâu đậm đối với các nhà đầu tư đến từ quốc gia này. Theo địa bàn đầu tư: Thành phố Việt Trì và huyện Phù Ninh đã nổi lên như là những địa phương có môi trường đầu tư hấp dẫn nhờ lợi thế về cơ sở hạ tầng và vị trí địa lý thuận lợi. Khu công nghiệp Thụy Vân (thành phố Việt Trì) và Cụm công nghiệp Đồng Lạng (huyện Phù Ninh) đã thu hút được nhiều dự án, nhờ các chính sách ưu đãi của tỉnh đối với các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào các KCN-CCN. Theo ngành, lĩnh vực: Trong giai đoạn 2001-2007, năm nào Phú Thọ cũng thu hút được các dự án đầu tư lớn vào ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp trong 7 năm đã có 60 dự án, chiếm 78,96% tổng số dự án với số vốn đăng ký là 275,25 triệu USD, chiếm 77,90% tổng số vốn FDI, đã góp phần lớn vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng CNH-HĐH. 1.2. Triển khai các dự án FDI Mức độ hoàn thành công việc Các dự án nhóm 1, tức đã đi vào sản xuất kinh doanh đạt kết quả tốt, đa số đều là các dự án lớn, đã chiếm tỷ trọng lớn nhất về lượng vốn đầu tư với 131,12 triệu USD (37,11%). Tổng số các dự án có thể triển khai thuận lợi là 60 dự án, chiếm tỷ lệ cao là 78,95%. Các dự án này khi đi vào hoạt động đã góp phần đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm, nâng cao trình độ công nghệ, quản lý sản xuất, khả năng cạnh tranh hội nhập của tỉnh, tạo ra thêm nhiều năng lực sản xuất mới. Tình hình thực hiện vốn đầu tư Giai đoạn 2001-2007 là giai đoạn mà các dự án FDI tại Phú Thọ đạt tỷ lệ giải ngân khá cao, đạt mức 57,58% so với mức bình quân của cả nước là 42,44%. Năm 2003, lượng FDI thực hiện là 118,22 triệu USD, tỷ lệ thực hiện lên tới 82,51%. Hoạt động của doanh nghiệp FDI Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI cơ bản đã đảm bảo đúng pháp luật, sản xuất ổn định, có đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Hầu hết các doanh nghiệp triển khai dự án đã đảm bảo mức vốn đầu tư đăng ký; vốn đầu tư chủ yếu là do các doanh nghiệp tự có ; hệ số sử dụng đất cao, thu hút nhiều lao động và đảm bảo mức thu nhập cho họ. 2. Các hạn chế và nguyên nhân 2.1. Thu hút FDI Quy mô vốn FDI Giai đoạn 2001-2007, tuy Phú Thọ đã đạt được nhiều thành tựu trong thu hút vốn FDI song cũng tồn tại không ít những mặt hạn chế và bất cập cần phải xem xét để kịp thời có các biện pháp hữu hiệu khắc phục. Quy mô của dự án FDI nhìn chung là còn thấp, các dự án tỉnh thu hút được đa phần vẫn là các dự án nhỏ. Mức vốn đầu tư đăng ký cấp phép bình quân cho một dự án là 4,65 triệu USD, thấp hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước là khoảng 10 triệu USD/1 DA. Các dự án nhỏ này tạo ra các tác động tích cực thấp hơn với doanh thu thấp hơn, kim nghạch xuất khẩu nhỏ hơn, sử dụng ít lao động hơn và đóng góp ngân sách ít hơn so với các dự án có vốn đầu tư lớn. Số dự án FDI thu hút được còn chưa nhiều, bình quân 1 năm chỉ thu hút được 11 dự án (riêng 2001 chỉ thu hút được 1 dự án), lại khá thất thường. Quy mô vốn của FDI thu hút được nhìn chung là có tăng lên song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh. Quy mô vốn huy động được qua các năm diễn biến rất thất thường và khó dự báo. Tỷ trọng của vốn FDI so với tổng vốn đầu tư phát triển của tỉnh vẫn chưa cao. Nguyên nhân A. Nguyên nhân khách quan: Kinh tế thế giới: Trên phạm vi quốc tế, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực năm 1997-1998 đã tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty mẹ tại các nước Đông Á, ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của các nhà đầu tư khi muốn đầu tư vào các quốc gia Châu Á. Đồng thời, thị trường tiêu thụ sản phẩm của thế giới bị thu hẹp nên tác động xấu đến khả năng xuất khẩu, vốn là ngành chủ lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Phú Thọ. Một số lợi thế của Việt Nam như tài nguyên thiên nhiên phong phú, giá nhân công thấp,... cũng đang chịu sự cạnh tranh quyết liệt đến từ các nước trong khu vực. Việc Trung Quốc gia nhập WTO đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài chú ý hơn đến thị trường tiềm năng này. Môi trường vĩ mô: Công cuộc cải cách hành chính những năm vừa qua tuy đã được đẩy mạnh, song cũng bộc lộ những hạn chế, chậm chạp và Việt Nam vẫn được xem như một trong những quốc gia có thủ tục hành chính rườm rà nhất. Hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước mặc dù đã được bổ sung và điều chỉnh theo hướng ngày càng hoàn thiện song vẫn thiếu tính thống nhất, đồng bộ và sự ổn định, làm giảm niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài. Các nghị định như nghị định 164/2003/NĐ-CP ban hành ngày 22/12/2003 của CP về thuế thu nhập doanh nghiệp và nghị định 158/2003/NĐ-CP về quy định chi tiết việc thi hành Luật thuế giá trị gia tăng ngày 10/12/2003 đã giảm bớt các ưu đãi về đầu tư với các doanh nghiệp trong KCN, khu chế xuất, ảnh hưởng xấu đến tâm lý các nhà đầu tư. Các rào cản về quy hoạch trong một số ngành vẫn chưa được tháo gỡ để thu hút FDI trong các lĩnh vực này. Điều kiện kinh tế-xã hội của tỉnh: Phú Thọ nằm trong khu vực miền núi và trung du phía Tây Bắc, nơi có điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, điều kiện tự nhiên không thuận lợi như các tỉnh thuộc vùng đồng bằng phía Bắc và thủ đô Hà Nội. Điều đó đã hạn chế các hoạt động kinh tế của tỉnh nói chung và hoạt động thu hút FDI nói riêng. Tuy những năm vừa qua, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều cải thiện, song thu nhập bình quân đầu người vẫn thấp hơn cả nước (bằng 60% năm 2007), tỷ lệ hộ nghèo 22%, có 50 xã đặc biệt khó khăn, KCHT kém phát triển,... Lao động của tỉnh đa số vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. B. Nguyên nhân chủ quan: Các rào cản hành chính: Không phải tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn đều nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay. Ngay cả trong nội bộ các Sở, Ban, Ngành trực tiếp liên quan cũng không phải sự nhận thức này đã được thống nhất từ cấp lãnh đạo cao nhất đến thấp nhất mà vẫn còn một bộ phận nhỏ tỏ ra mơ hồ, thờ ơ trước những yếu kém còn tồn tại trên địa bàn.. Những yếu tố đó đã gián tiếp làm các thủ tục hành chính của tỉnh trở nên phiền hà, nhiều vấn đề của nhà đầu tư trong quá trình triển khai và vận hành dự án không được quan tâm, ưu tiên giải quyết. Các nhà đầu tư đã rất nhiều lần nản lòng trước thủ tục phê duyệt dự án rườm rà cộng với thời gian thẩm định dự án quá lâu, có khi lên tới vài tháng hoặc vài năm. Khi dự án của họ được cấp phép thì thời gian kinh doanh đã trôi qua và lòng tin của họ với môi trường đầu tư của tỉnh đã suy giảm nghiêm trọng, do đó họ rút lại dự án và đi sang tỉnh khác để tìm cơ hội đầu tư. Các rào cản quy hoạch: Công tác quy hoạch cũng là một hạn chế khác không kém phần nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, mặc dù luật pháp, chính sách và môi trường đầu tư không ngừng được hoàn thiện nhưng hiệu quả thu hút FDI vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của các tỉnh. Theo các chuyên gia quản lý dự án, một trong những nguyên nhân là do quy hoạch phát triển các ngành chủ chốt đến nay vẫn chưa được xác định. Nhiều nhà đầu tư đã mất khá nhiều thời gian tìm hiểu và hình thành dự án nhưng đến khi dự án được hình thành thì lại phải huỷ bỏ vì quy hoạch thay đổi, đó cũng là do tỉnh Phú Thọ chưa có quy hoạch, hướng dẫn đầu tư tổng thể hợp lý. Công tác quy hoạch chi tiêt, quy hoạch cho đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng chưa được coi trọng. Trong các năm vừa qua, tỉnh vẫn chưa có sự nghiên cứu nghiêm túc và xây dựng các danh mục dự án đầu tư chủ yếu cần thu hút. Vì thế, để tránh rủi ro, các nhà đầu tư phải chờ đợi để thăm dò. Chất lượng nguồn nhân lực: Thực tế ở Phú Thọ cho thấy, đội ngũ những người làm kinh doanh và viên chức Nhà nước còn thiếu và yếu. Nét nổi bật của sự yếu kém thể hiện ở chỗ: Khả năng hiểu biết về luật và áp dụng luật, kinh nghiệm nắm bắt thị trường, kinh nghiệm làm ăn với người nước ngoài, trình độ ngoại ngữ, thông lệ quốc tế... Tỉnh vẫn chưa có các hình thức đào tạo thích hợp, nhất là đào tạo nghề với sự tham gia của các tổ chức trong nước và nước ngoài nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu lao động kỹ thuật cao của nhà đầu tư để họ đáp ứng được yêu cầu công việc. Hoạt động xúc tiến đầu tư: Hoạt động xúc tiến đầu tư nước ngoài vẫn chưa nhận được sự quan tâm thích đáng, chưa được tiến hành rộng rãi và toàn diện. Đó là nguyên nhân mà ngoài Hàn Quốc ra, rất ít quốc gia khác biết tới Phú Thọ hoặc là có đầu tư nhưng rất ít như là Nhật Bản hay Trung Quốc. Nhiều dự án lớn mà vẫn do Trung Ương giao cho tỉnh Phú Thọ. Trang web giới thiệu tiềm năng thu hút đầu tư của tỉnh còn ít thông tin, chưa có đầy đủ thông tin về các tiềm năng của tỉnh cũng như danh mục các dự án FDI kêu gọi vốn đầu tư. Tỉnh chưa thực sự đầu tư kinh phí để đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư trên các phương tiện thông tin đại chúng trung ương và địa phương. Cơ cấu vốn FDI Theo hình thức đầu tư:.Số lượng dự án đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài vẫn được nhà đầu tư ưa thích hơn, chứng tỏ có những sự khó khăn trong việc liên doanh giữa trong nước và nước ngoài. Đã có dấu hiệu các dự án xin chuyển đổi hình thức sở hữu từ liên doanh sang hình thức 100% vốn nước ngoài sau một thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh do sự không nhất trí giữa 2 bên tham gia liên doanh. Việc tăng lên của các dự án 100% vốn nước ngoài sẽ càng hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý từ phía Việt Nam, và phía Việt Nam sẽ được hưởng ít thành quả hơn từ quá trình sản xuất kinh doanh. Theo đối tác đầu tư: Giai đoạn 2001-2005, tỉnh mới chỉ thiết lập được quan hệ đối tác với 4 quốc gia, trong đó vắng bóng Singapore là đối tác đầu tư nước ngoài lớn thứ 2 của Việt Nam. Điều này chứng tỏ công tác xúc tiến đầu tư của tỉnh vẫn chưa rộng rãi và toàn diện. Ngoài Hàn Quốc ra thì cả 3 đối tác còn lại vẫn chưa thực sự tin tưởng vào môi trường đầu tư của tỉnh, do đó số lượng dự án còn rất hạn chế và với quy mô nhỏ, chỉ mang tính chất thăm dò là chính. Theo địa bàn đầu tư: Sự mất cân đối thể hiện rất rõ trong cơ cấu FDI theo địa bàn đầu tư của tỉnh. Ngoài thành phố Việt Trì và huyện Phù Ninh ra thì các địa phương khác thu hút được rất ít dự án. Điều này không mang lại cho các huyện cơ hội phát triển, không khai thác được lợi thế và tiềm năng của địa phương. Các huyện miền núi vốn khó khăn giờ lại càng khó khăn hơn, gia tăng sự cách biệt với khu vực thành thị. Theo ngành, lĩnh vực: Cơ cấu vốn FDI theo ngành cũng khá mất cân đối. Ngành nông nghiệp Phú Thọ tuy có nhiều tiềm năng về đất đai song mới chỉ có 8 dự án đầu tư và đó đều là các dự án nhỏ, mới chỉ xuất hiện trong 2 năm trở lại đây. Ngành dịch vụ cũng có nhiều tiềm năng, đặc biệt là tiềm năng du lịch, song cũng mới chỉ có 8 dự án đầu tư với số vốn khiêm tốn 65,54 triệu USD trong 7 năm. Trong ngành công nghiệp cũng có sự mất cân đối khi lĩnh vực công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động chiếm đa số, thiếu các dự án công nghệ cao có giá trị gia tăng lớn. Nguyên nhân Công tác xúc tiến đầu tư vẫn còn mất cân đối, thường chỉ tập trung vào một đối tác là Hàn Quốc thay vì đa phương hóa đối tác. Công tác quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa khai thác tiềm năng của tất cả các huyện, thị trong tỉnh. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém nên gây khó khăn cho các nhà đầu tư muốn đầu tư vào vùng sâu vùng xa, vùng có kinh tế khó khăn. Ngoài ra. tỉnh Phú Thọ hiện nay vẫn còn thiếu các biện pháp cụ thể và tích cực trong việc tận dụng các thế mạnh sẵn có của tỉnh để thu hút FDI. Lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản, du lịch sinh thái, khai thác khoáng sản,.. là những lĩnh vực mà tỉnh có nhiều ưu thế, song vẫn chưa có một chính sách cụ thể nào được đưa ra để ưu tiên các doanh nghiệp FDI đầu tư vào các lĩnh vực này, do đó mà cơ cấu vốn FDI của tỉnh khá mất cân đối. 2.2. Triển khai các dự án FDI Mức độ hoàn thành công việc Trong giai đoạn 2001-2007, trong tổng số 76 dự án được cấp phép thì có 16 dự án không còn có khả năng thực hiện và bị thu hồi giấy chứng nhận đầu tư (Nhóm 4), chiếm 21,05%. Trong số 16 dự án này có nhiều dự án lớn. Tỷ trọng số dự án đã và đang triển khai cũng chiếm tới gần một nửa (47,37%). Với mức độ triển khai công việc như vậy, không nhiều dự án đi vào sản xuất một cách có hiệu quả. Nguyên nhân Chú trọng số lượng hơn chất lượng: Do đang trong giai đoạn đầu thu hút vốn ĐTNN nên thời gian qua, tỉnh chủ yếu tập trung tăng số lượng dự án đầu tư hơn là việc sàng lọc chất lượng các dự án. Hệ quả là hầu hết các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Phú Thọ là những doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ, hoạt động chưa ổn định, thậm chí một số doanh nghiệp còn thường xuyên thua lỗ, công nghệ của hầu hết các dự án này còn ở trình độ trung bình và thấp. Nhiều dự án đang hoạt động phải bỏ dở vì không còn khả năng thực hiện dự án và bị thu hồi Giấy phép đầu tư. Công tác quản lý dự án chưa khoa học: Tỉnh chưa có những biện pháp quản lý có hiệu quả đối với các doanh nghiệp FDI, do đó phản ứng thường chậ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxĐầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Phú Thọ- Thực trạng và giải pháp.docx