Tiểu luận Hoàn thiện Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Hiện nay đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có hiệu quả mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh đều nằm trong tình trạng thiếu đất để làm mặt bằng . Việc xin cấp đất hoặc thuê đất của doanh nghiệp đều bị cảm trở bởi hồ sơ và thủ tục phức tạp tuy nhiên có vài địa phương làm tốt điều này nhưng chỉ là số ít . Trước sức ép tất đất tất vàng có chủ doanh nghiệp thốt lên : Nghỉ đến chuyện xin cấp đất , thuê đất tôi như nhìn thấy trên con đường có những tấm dào cản không thể vượt qua .Làm con đường chỉ cho người ta đích nhưng lại xây dào qua cao thì còn nói chuyện gì nữa .( Báo Doanh nghiệp – Doanh ngày 17/11/2004 “ DNV&N Sáu bước rào cản “ . Đó là do các qui định về quyền sử dụng đất thường không rõ ràng, quyền mua bán, thế chấp chuyển nhượng đất công nghiệp vẫn chưa được thừa nhận. Khó khăn đang còn rất lớn. Một ví dụ: năm 1997 trong cuộc điều tra 452 dự án đầu tư mới, chỉ có 17 dự án thuộc khu vực tư nhân; mặc dù các dự án này đã nộp đơn xin cấp quyền sử dụng đất hoặc thuê đất nhưng chỉ có duy nhất một dự án được thuê đất.

doc24 trang | Chia sẻ: maiphuongdc | Ngày: 15/01/2014 | Lượt xem: 847 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Hoàn thiện Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u tra là 23.708, có tới 20.856 DNNVV. Theo số liệu thống kê đến 30/6/1998, trong tổng số các doanh nghiệp dân doanh là 25.517, có 17.535 doanh nghiệp tư nhân, 6.900 công ty TNHH, 153 công ty cổ phần và 2.900 hợp tác xã. Xét về lĩnh vực kinh doanh, cũng theo số liệu của cuộc điều tra nói trên, trong số 20.856 DNNVV có 77,6% hoạt động trong các ngành thương nghiệp, sửa chữa và công nghiệp chế biến, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, sửa chữa chiếm 42,2% và các doanh nghiệp hoạt động trong công nghiệp chế biến chiếm 35,4%. Doanh nghiệp hoạt động trong xây dựng chiếm gần 10%; trong khách sạn, nhà hàng 44,4%; trong ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc 3,3%; trong ngành kinh doanh bất động sản và dịch vụ tư vấn 2,1%; trong ngành khai thác mỏ 1,2%; còn lại dưới 1% là những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác. Về phân bố giữa các địa phương, DNNVV tập chung chủ yếu tập ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 55% tổng số DNNVV của cả nước, ngoài ra là Đồng bằng sông Hồng chiếm 18,1%, Duyên hải miền Trung 10,1%. 2.Vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế Việt Nam Trong nền kinh tế nước ta hiện nay DNNVV có vị trí đặc biệt quan trọng thể hiện qua các mặt dưới đây: -Tạo việc làm cho người lao động. Đây là một thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến chúng ta phải đặc biệt chú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay. Số liệu điều tra lao động và việc làm (7/2000) cho thấy ở Việt Nam, dân số trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60, nữ từ 15 đến 55) là 46,2 triệu người chiếm 59,2% tổng dân số (năm 1989 mới chỉ là 55%). Việt Nam đang chuyển từ giai đoạn cấu trúc dân số trẻ sang "cơ cấu dân số vàng", nghĩa là tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động ở mức cao trong khi tỷ lệ dân số phụ thuộc giảm. Dự báo trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng và đạt đỉnh cao nhất là gần 70% vào năm 2009 (56 triệu người). Từ năm 1999 đến năm 2009 mỗi năm sẽ có thêm 1,8 triệu người bước vào độ tuổi lao động. Đây là mức tăng nguồn nhân lực cao nhất từ trước đến nay trong lịch sử dân số Việt Nam, là tiềm năng, cơ hội lớn về nguồn nhân lực và cũng là thách thức rất lớn về giải quyết việc làm. Khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 25-26% lực lượng lao động phi nông nghiệp của cả nước, nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho một làm việc ở đây thấp hơn rất nhiều so với doanh nghiệp lớn, chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được các nguồn vốn rải rác trong dân. Theo tài liệu "Một số chỉ tiêu chủ yếu về qui mô và hiệu quả của 1,9 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam " của Tổng Cục Thống Kê xuất bản năm 1997, lượng vốn trung bình cho một chỗ làm việc trong doanh nghiệp tư nhân chỉ có 35 triệu đồng và trong công ty TNHH là 45 triệu đồng, trong khi lượng vốn trung bình cho một chỗ làm việc tại doanh nghiệp Nhà Nước là 87,5 triệu đồng. Các DNNVV đang là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động nhất là ở nông thôn tăng mỗi năm; đồng thời còn tiếp nhận số lao động từ các doanh nghiệp Nhà nước dôi ra qua việc cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, phá sản doanh nghiệp hiện đang được triển khai. -Đóng góp tăng trưởng kinh tế. Mỗi năm DNNVV đóng góp khoảng 25-26% GDP của cả nước. Năm 1995, DNNVV tạo ra 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% tổng khối lượng vận chuyển hàng hoá, 100% giá trị sản lượng hàng hoá của một số ngành nghề như chiếu cói, giầy dép, hàng thủ công mỹ nghệ ... Xét về tương quan giá trị TSCĐ với doanh thu để xem xét hiệu quả sử dụng đồng vốn, có thể thấy hiệu quả sử dụng đồng vốn ở khu vực DNNVV đang rất khả quan: để tạo ra một đồng doanh thu, các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Trung ương quản lý phải đầu tư 0,562 đồng vốn cố định, trong khi đó các doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý chỉ đầu tư 0,220 đồng; doanh nghiệp tập thể 0,298 đồng; doanh nghiệp tư nhân 0,197 đồng; công ty TNHH 0,188 đồng. Nếu so sánh các doanh nghiệp Nhà nước Trung ương quản lý số vốn cố định mà doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý sử dụng cho một đồng doanh thu chỉ bằng 39%; tương tự như vậy, các doanh nghiệp tập thể bằng 53%; các doanh nghiệp tư nhân băng 35%; còn công ty TNHH chỉ bằng 33%. -Bảo đảm cho nền kinh tế năng động hơn. Do yêu cầu vốn ít, qui mô nhỏ, DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ làm cho nền kinh tế năng động hơn. Một số nền kinh tế như Đài Loan vừa qua ít chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực, chủ yếu do dựa vào DNNVV. Đối với doanh nghiệp lớn, DNNVV cũng có thể làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ hàng hoá hoặc cung cấp vật tư đầu vào với giá rẻ hơn do đó góp phần hạ giá thành nâng cao hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp lớn. -Tăng thu nhập cho dân cư. Thu nhập của nhân dân ta còn quá thấp do kinh tế chậm phát triển; ngay trong nông nghiệp, dù sản lượng thóc có tăng nhanh thì cũng chỉ đủ no, chứ không giầu được nếu không có công nghiệp chế biến. Phát triển DNNVV ở thành thị cũng như nông thôn là biện pháp chủ yếu để tăng thu nhập, đa dạng hoá thu nhập của các tầng lớp nhân dân khắp các vùng trong nước. Việc phát triển DNNVV chế biến nông, lâm, thuỷ sản, thủ công mỹ nghệ truyền thống phân bố rộng khắp trong các vùng nông thôn sẽ tạo nên bộ mặt mới cho nông thôn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, góp phần rất quan trọng thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. -Góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế xóa đói giảm nghèo theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá. Xét về các loại cơ cấu, như cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lãnh thổ, phân bố dân cư... Việc phát triển DNNVV sẽ tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọng về cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế, từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, thuần nông là chủ yếu sang một nền kinh tế có đủ cơ cấu theo hướng tiến lên xã hội văn minh, hiện đại. Rất dễ nhận thấy là mấy năm gần đây, bộ mặt kinh tế, xã hội của nhiều vùng đã có thay đổi theo hướng đó: nhiều thị trấn, thị tứ, đông đúc hợn trước, nhiều cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mới được hình thành, đi đôi với giao thông nông thôn phát triển và nhiều đường dẫn toả ra nhiều vùng nông thôn... -Và cuối cùng là góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tế một đội ngũ doanh nhân mới trong kinh tế thị trường. Trong thực tế, có những DNNVV vẫn tiếp tục giữ tổ chức của mình là nhỏ hoặc vừa vì qui mô này phù hợp với khả năng kinh doanh ngành, nghề đang theo đuổi, nhưng cũng có những doanh nghiệp phát triển lên thành những doanh nghiệp có qui mô lớn. Đã có những gương doanh nhân thành đạt xuất thân từ những công việc rất đơn giản, do ý chí và quyết tâm rất đáng khích lệ, dù ở qui mô nào, DNNVV cũng vẫn là những vườn ươm nhân tài cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. II.Hệ thống thể chế, chính sách khuyến khích trợ giúp DNNVV ở Việt Nam. DNNVV ở nước ta hiện nay đang còn nhiều yếu kém, việc trợ giúp là hết sức cần thiết. Đối với các doanh nghiệp, trong đó có DNNVV, từ những năm đổi mới, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật để từng bước hình thành hệ thống thể chế, chính sách khuyến khích phát triển. Có thể kể ra đây những văn bản quan trọng nhất. -Hiến pháp năm 1992 công nhận quyền tự do kinh doanh của mọi công dân theo qui định của pháp luật; công nhận quyền được đối xử bình đẳng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. -Luật đất đai năm 1993, được sửa đổi hai lần bằng các luật sửa đổi, bổ xung một số điều của luật đất đai của năm 1998 và năm 2001, qui định các doanh nghiệp có quyền hợp pháp về sử dụng đất, có quyền chuyển nhượng hoặc thế chấp quyền sử dụng đất. -Luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 qui định khung pháp luật cho các doanh nghiệp này hoạt động hoặc tham gia thị trường trong nước và nước ngoài. -Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 1994 được sửa đổi bằng các pháp lệnh năm 1997 và năm 2001. -Luật dân sự năm 1995 qui định nhiều quyền dân sự, trong đó có quyền kinh doanh thông qua hợp đồng và quyền thực hiện hợp đồng thông qua tài sản cầm cố và thế chấp. -Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997, đơn giản hoá và thực hiện thống nhất một sắc thuế thu nhập cho các loại hình doanh nghiệp trong nước. -Luật thuế giá trị gia tăng năm 1997 thay thế luật thuế doanh thu bị coi là thuế chồng lên thuế bằng một sắc thuế đơn giản hơn, công bằng hơn. -Luật thương mại năm 1997 tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động thương mại của các doanh nghiệp. -Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) năm 1998 và nghị định số 51 (tháng 7/1999) cụ thể hoá điều kiện luật đó đã đề ra khá nhiều chính sách cụ thể áp dụng cho tất cả loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, kể cả cá nhân, nhằm kinh doanh theo nghị đinh 66-HĐBT ngày 2/3/1992. -Nghị địng số 57 (7/1998) qui định tất cả các doanh nghiệp đã đăng ký có quyền xuất khẩu và xuất khẩu các mặt hàng đã đăng ký kinh doanh (mà trước đây cần phải có giấy phép) trừ một số ít sản phẩm còn qui định hạn ngạch hoặc xuất nhập khẩu có điều kiện. -Luật doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000) qui định tổ chức và hoạt động của 4 loại hình doanh nghiệp: công ty TNHH, đào tạo cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, trên cơ sở hợp nhất hai luật về công ty và doanh nghiệp tư nhân trước kia. -Quyết định số 46/2001 ngày 4/4/2001 của Thủ tướng Chính Phủ về xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2005 đề ra một số cơ chế 5 năm thay cho cơ chế hàng năm trước đây, giảm bớt các biện pháp phi quan thuế, tăng các biện pháp kinh tế. Rõ ràng là, trải qua 15 năm đổi mới theo đường lối của Đảng, thể chế kinh tế nước ta đã từng bước chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, một hệ thống các văn bản pháp luật theo thể chế kinh tế thị trường đã từng bước hình thành, tuy chưa thật hoàn chỉnh; nhờ đó kinh tế dân doanh bước đầu bừng nở, mọi lực lượng sản xuất được giải phóng đã đem lại sức phát triển mới của kinh tế nước ta, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Thế nhưng, trên con đường kinh doanh, DNNVV đang còn gặp không ít khó khăn. Để khuyến khích phát triển mạnh hơn nữa nhiều DNNVV, việc tiếp tục đổi mới công tác quản lý của Nhà nước là hết sức quan trọng, mà trước hết là cải cách thể chế kinh tế. Trong khi các yếu tố của kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay đang rất sơ khai, không đồng bộ, thể chế ấy phải bảo đảm hình thành, phát triển và hoàn thiện các loại thị trường, nhất là thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học- công nghệ. Điều quan trọng trong thể chế là phải dứt khoát xoá bỏ cơ chế "xin cho" tràn lan đã ăn sâu trong nếp nghĩ cũng như cung cách quản lý của không ít cơ quan và công chức, đôi khi lại còn vì cơ chế cũ đã đem lại cho họ những bổng lộc mà họ không sao dứt bỏ được. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra nhiệm vụ "trong 5 năm tới, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế quản lý kinh tế thị trường định hướng XHCN, khắc phục những yếu kém, tháo gỡ những vướng mắc" và đến năm 2010, "thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN phải được định hướng về cơ bản". Như vậy, việc cần thiết là tiếp tục cụ thể hóa thêm thể chế, chính sách đó và vận dụng phù hợp với đặc điểm DNNVV trong tình hình hiện nay. Dưới đây là một số chính sách cụ thể nhất cần được quan tâm. 1.Chính sách khuyến khích đầu tư: Lâu nay, phần lớn DNNVV tập trung đầu tư vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ đời sống (chiếm tới 46,2% số doanh nghiệp), còn lĩnh vực công nghiệp thì quá ít. Điều đó thể hiện rõ tâm lý của người dân chưa thật sự tin tưởng vào kinh doanh dài hạn, nhiều rủi ro. Vì vậy, việc khuyến khích đầu tư vào công nghiệp, nhất là phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu rất cần được chú trọng. Công nghiệp chế biến nông sản, lâm sản cần được đầu tư nhiều hơn nữa, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Nghị định 51-CP ngày 8/7/1999 đã đề ra nhiều chính sách khuyến khích đầu tư phát triển doanh nghiệp trong nước, về ngành, nghề, vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn, thế nhưng hiệu lực thi hành nghị định này rất kém thể hiện ở hai mặt: một là, có những ngành (ví dụ thuế) không những không thực hiện đúng qui định trong nghị định 51 lại còn đòi hỏi những điều kiện trái với nghị định; hai là, còn nhiều thủ tục hành chính hạn chế doanh nghiệp dân doanh tiếp cận các chính sách ưu đãi. Vì vậy, rất cần kiểm điểm để đẩy mạnh việc thi hành Nghị định 51, bổ xung những qui định cần thiết. Đồng thời, rất cần thiết rà soát lại toàn bộ thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp, xoá bỏ những trở ngại trong sản xuất kinh doanh, những bất bình đẳng, sửa đổi, bổ xung những qui định mới có tác dụng khuyến khích mạnh hơn nữa, tiến đến một cơ chế chung cho doanh nghiệp dân doanh với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Việc này cần có thời gian, tiến hành từng bước, trước mắt, cần sớm sửa đổi, bổ xung những cơ chế, chính sách đã rõ là không hợp lý, tiếp tục tạo thuận lợi cho doanh nghiệp (kể cả DNNVV). 2. Chính sách về mặt bằng kinh doanh: Hiện nay đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động có hiệu quả mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh đều nằm trong tình trạng thiếu đất để làm mặt bằng . Việc xin cấp đất hoặc thuê đất của doanh nghiệp đều bị cảm trở bởi hồ sơ và thủ tục phức tạp tuy nhiên có vài địa phương làm tốt điều này nhưng chỉ là số ít . Trước sức ép tất đất tất vàng có chủ doanh nghiệp thốt lên : Nghỉ đến chuyện xin cấp đất , thuê đất tôi như nhìn thấy trên con đường có những tấm dào cản không thể vượt qua .Làm con đường chỉ cho người ta đích nhưng lại xây dào qua cao thì còn nói chuyện gì nữa .( Báo Doanh nghiệp – Doanh ngày 17/11/2004 “ DNV&N Sáu bước rào cản “ . Đó là do các qui định về quyền sử dụng đất thường không rõ ràng, quyền mua bán, thế chấp chuyển nhượng đất công nghiệp vẫn chưa được thừa nhận. Khó khăn đang còn rất lớn. Một ví dụ: năm 1997 trong cuộc điều tra 452 dự án đầu tư mới, chỉ có 17 dự án thuộc khu vực tư nhân; mặc dù các dự án này đã nộp đơn xin cấp quyền sử dụng đất hoặc thuê đất nhưng chỉ có duy nhất một dự án được thuê đất. Do những khó khăn trong việc xin quyền sử dụng đất, cho nên nhiều DNNVV thường phải dùng ngay nơi ở của mình để làm cơ sở sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, cũng do đó thị trường ngầm về đất đai hoạt động khá nhộn nhịp, tuy bị coi là bất hợp pháp, nhưng DNNVV không thể không tiếp cận để có mặt bằng cho sản xuất kinh doanh. Vì vậy, các thủ tục về quyền chuyển nhượng sử dụng đất cho DNNVV, thủ tục thuê địa điểm lập doanh nghiệp cần được cải tiến, giảm bớt khó khăn về mặt bằng. Để giải quyết địa điểm cho các doanh nghiệp phải di chuyển từ nội thành, nội thị ra ngoại ô nhằm tránh ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng để chuẩn bị mặt bằng cho doanh nghiệp mới, thực hiện qui hoạch đô thị hoá, tạo nên bộ mặt mới cho nông thôn, một số địa phương như các thành phố: Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội, đã hình thành những khu công nghiệp nhỏ và vừa, hoặc cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cho DNNVV. Khó khăn hiện nay là chi phí di chuyển quá sức chịu đựng của doanh nghiệp, giá thuê đất không phù hợp, chi phí đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp cũng còn cao. Quốc hội khoá X trong kỳ họp thứ 9 ( tháng 5 năm 2001) đă thông qua một số điều sửa đổi luật đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dân doanh trong việc thuê đất, giải phóng mặt bằng. Tuy vậy vẫn là những sửa đổi chưa thật cơ bản, hy vọng rằng trong những năm tới, sẽ có những đổi mới mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực đất đai, giải quyết cơ bản yêu cầu của DNNVV trong lĩnh vực mặt bằng cho sản xuất kinh doanh. 3.Chính sách về vốn Hiện nay, 75% số DNNVV có số vốn dưới 50 triệu đồng, thiếu vốn đang là khó khăn phổ biến, nhưng số DNNVV được vay vốn của ngân hàng rất ít. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc thực hiện cấp tín dụng từ quĩ trợ giúp đầu tư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước từ ngày 1/12/1999 đến ngày 30/6/2000, đã có 164 dự án với tổng số vốn vay ưu đãi trên 424 tỷ đồng, trong đó 61 dự án thuộc khu vực dân doanh (39% tổng số dự án) được vay 294 tỷ đồng (69% tổng giá trị khoản tín dụng ưu đãi). Chỉ có 103 dự án thuộc khu vực dân doanh được vay ưu đãi 130 tỷ đồng, tính trung bình 1,2 tỷ đồng cho một dự án. Nếu nghiên cứu sâu hơn nữa có thể thấy phần lớn tín dụng tập trung vào các doanh nghiệp tư nhân lớn, chứ không phải các DNNVV. Do vậy, phần lớn DNNVV huy động vốn của các tổ chức phi tài chính, cụ thể là trong gia đình, bạn bè hoặc dựa vào nhau với lãi suất cao hơn gấp 3-6 lần so với lãi suất chính thức. DNNVV còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng chính thức khác; các khoản vay có bảo lãnh cũng thường không đến với các DNNVV. Đối với ngân hàng, dù đã được ưu đãi cũng không dễ, nhiều doanh nghiệp cho biết: tuy lãi suất vay ngân hàng là thấp nhưng các thủ tục vay rất phức tạp, nếu tính cả các lệ phí tiêu cực thì thực chất chi phi giao dịch là quá cao; việc phải hoa hồng 10% là phổ biến (tuy đây là hiện tượng có thật nhưng khó phát hiện). Những qui định khắt khe về tài sản thế chấp và việc xem xét tính khả thi của dự án đầu tư cũng làm cho nhiều DNNVV không thể đáp ứng được, trong khi đó các doanh nghiệp Nhà nước lại được vay mà không cần thế chấp. Hiện nay, đã có qui định cho rằng ngân hàng chủ động xem xét dự án của doanh nghiệp, có thể cho doanh nghiệp vay không cần thế chấp, nhưng việc thực hiện rất khó khăn nhất là các khoản vay có bảo lãnh rất hiếm khi dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ việc đầu tư cho DNV&V Do nhận thức chưa thông thoáng , cho nên bị hạn chế rất nhiều ( Báo Doanh nghiệp – Doanh ngày 17/11/2004 “ DNV&N Sáu bước rào cản ). Vì vậy, để doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng còn nhiều vấn đề giải quyết về thủ tục vay. Để giải quyết vấn đề tài sản thế chấp cho DNNVV, mấy năm gần đây tại Bắc Giang đã tiến hành thí điểm Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV. Trên cơ sở kinh nghiệm của Bắc Giang, một Nghị định về Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV cũng đang được các cơ quan hữu quan nghiên cứu để ban hành, thi hành trong cả nước. Quỹ này phải là một tổ chức do các DNNVV cũng ngân hàng thành lập, có sự trợ giúp ban đầu của Nhà Nước để cùng chia sẻ rủi ro với ngân hàng trong quá trình cho DNNVV vay vốn, mà thiết thực nhất là cùng trợ giúp trực tiếp cho DNNVV trong quá trình chuẩn bị dự án sản xuất kinh doanh, bảo đảm tính khả thi của dự án. Hiện đang có tình trạng thừa vốn, thiếu dự án khả thi. Vì vậy, điều quan trọng là giúp cho doanh nghiệp xây dựng được dự án khả thi và về phía mình ngân hàng cần tăng cường năng lực thẩm định dự án, nâng cao trách nhiệm và chủ động hơn trong việc cho vay. Cũng nên khuyến khích việc ngân hàng cùng đầu tư với doanh nghiệp để kinh doanh, ngân hàng không nên chỉ đơn thuần là tổ chức tín dụng. 4.Chính sách thị trường: Hiện nay các DNV&N của chúng ta thường phải chịu thiệt thòi ,phải gánh chịu những thông lệ và điều kiện cạnh tranh không bình đẳng ở thị trường trong nước ; khả năng xúc tiến thương mại , tiếp cận với thị trường trong nước và quốc tế rất khó khăn ; điều kiện tiếp cận với thông tin về văn bản ,phát luât , thị trừờng ,tiến bộ khoa học và công nghệ …. Còn tản mạn và hạn chế . Vì vậy, phải có nỗ lực của cả hai phía doanh nghiệp và các cơ quan tư vấn, xúc tiến của các tổ chức xã hội hoặc của cơ quan Nhà nước. Việc bảo hộ cũng chỉ có điều kiện và có thời gian, DNNVV cũng vẫn rất cần thiết tìm mọi biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá do doanh nghiệp mình sản xuất. Thời gian gần đây, việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đang có nhiều triển vọng mới (năm 1999 đạt 169 triệu USD) là một hướng cần được trợ giúp để có thể tăng nhanh kim nghạch. Vừa qua, Quyết định số 46 ngày 4-4-2001 của Thủ Tướng Chính Phủ đã đề ra những qui định mới hết sức thuận lợi cho việc xuất khẩu: Có những chủ trương chính sách cho từ nay đến năm 2005, tạo cho doanh nghiệp bức tranh dài hạn để bố trí công việc làm ăn, các cơ quan Nhà nước quản lý cũng có định hướng rõ ràng tạo điều kiện cho doanh nghiệp. Điểm mới rất quan trọng là quyết định 46 đã giảm bớt phi quan thuế, tăng các biện pháp kinh tế, giảm bớt các mặt hàng cấm nhập khẩu, giảm bớt qui chế xin- cho, xoá bỏ mạnh mẽ đầu mối. Đặc biệt, đã đề ra lộ trình rõ ràng: Năm nào bỏ cái gì, cái gì bảo hộ và bảo hộ đến bao giờ, bằng biện pháp gì.... Điều quan trọng là đưa những Quyết định mới vào cuộc sống, thiết thực giúp đỡ DNNVV trong các thủ tục để tiếp cận thị trường ngoài nước theo tinh thần mới của Quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ. Cần thực hiện rộng rãi các chính sách để DNNVV tiếp cận thị trường, tham gia các hội trợ, triển lãm ở nước ngoài, thuê gian hàng triển lãm, chính sách hưởng xuất khẩu, kể cả sử dụng quĩ trợ giúp xuất khẩu, nhằm khuyến khích mạnh hơn nữa việc thu hút ngoại tệ về cho dất nước. Riêng đối với DNNVV, lại càng khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, dù khối lượng và số ngoại tệ thu về ban đầu có thể chưa nhiều. Thời gian gần đây một số mặt hàng thủ công mỹ nghệ đã tìm được thị trường, tăng được kim nghạch xuất khẩu quá nhanh, cần tạo thêm điều kiện để có thể xuất khẩu thêm nhiều sản phẩm loại này, khai thác tốt tiềm năng của các nghành, nghề truyền thống. Đối với các DNNVV, việc hội nhập với kinh tế thế giới vừa qua là cơ hội, vừa là thách thức không nhỏ, nhưng nhiều DNNVV chưa sẵn sàng. đây là trách nhiệm của cả hai phía: các cơ quan chức năng cần giúp DNNVV nắm được thông tin, nâng cao hiểu biết và luật lệ thương mại quốc tế, khai thác thị trường phù hợp; các doanh nghiệp cần có trương trình đổi mới công nghệ, giảm thiểu chi phí ,nâng cao chất lượng hàng hoá, trong đó chú trọng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9000, điều quan trọng là mỗi doanh nghiệp tự đánh giá nâng cao sức cạnh tranh bằng sự vươn lên của chính mình, tránh một chiều trông chờ ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nước. Trong thực tế, đã có nhiều mô hình DNNVV tự mình hoặc tự liên kết với nhau thành các tổ, nhóm, hoặc dựa vào các doanh nghiệp lớn chủ động ra thị trường nước ngoài, tìm được chỗ đứng của mình. Ví dụ như kẹo dừa Bến Tre, nước mắn Phú Quốc và riêng nón lá Phú Mỹ (Quốc Oai , Hà Tây) đã mở rộng được thị trường Trung Quốc, qua "tổ tiêu thụ nón lá đi Trung Quốc" của xã, từ năm 1997 đến nay, phải hàng năm xuất 60-70 vạn nón lá các loại, doanh thu 3-4 tỷ đồng, năm 2000 đã xuất được 80 vạn nón mũ các loại. Những kinh nghiệp phát triển thị trường từ nhỏ đến lớn rất cần được tổng kết và nhân rộng. 5. Chính sách thuế Kinh nghiệm đã cho thấy, thuế xuất hợp lý thì thu được thuế cao cho ngân sách, ngược lại thuế xuất quá cao thì người dân sẽ tìm mọi cách để tránh thuế, kết quả là Nhà nước thất thu, doanh nghiệp chịu thiệt, còn người được lợi là những cán bộ thuế mất phẩm chất. Riêng về thuế giá trị gia tăng được ban hành năm 1997 và thi hành từ 1-1-1999 thay thế cho thuế doanh thu là loại thuế đánh vào người tiêu dùng, tránh được tình trạng " thuế chồng thuế", bằng cách khấu trừ số thuế đã nộp, người tiêu dùng phải chịu thuế sẽ chỉ trả thuế cho phần " Giá trị gia tăng" ở mỗi giai đoạn sản xuất không phải chịu thuế doanh thu chồng chéo. Tuy vậy, thuế giá trị gia tăng còn tới 4 loại thuế suất 6%, 5%, 10% và 20% và nhiều trường hợp được miễn trừ, cho nên việc thu thuế giá trị gia tăng vẫn gây ra nhiều khó khăn cho người nộp cũng như người thu thuế. Nhiều DNNVV cho rằng, mức thuế còn cao, chia làm 4 loại quá phức tạp chỉ nên thống nhất một loại thuế suất. Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng vậy, được áp dụng để thay thế thuế lợi tức có thuế suất 32% (Dù chưa có thu nhập, doanh nghiệp vẫn phải nộp theo từng quý). Tuy vậy, nhiều DNNVV vẫn cho rằng mức thuế suất đó là cao; hơn nữa lại còn thuế thu nhập bổ xung (Đối với các cơ sở kinh doanh được coi là có địa điểm kinh doanh thuận lợi; nghành, nghề kinh doanh ít bị cạnh tranh, thu nhập cao) là một thứ thuế bất hợp lý, triệt tiêu động lực kinh doanh, kìm hãm sản xuất. Doanh nghiệp sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo thuế xuất chung là 32% mà phần thu nhập còn lại so với vốn chủ sở hữu hiện có cao hơn 12% thì phần vượt đó phải nộp thuế thu nhập bổ xung (thuế suất là 25%). Từ phần thu nhập còn lại phải chịu thêm thuế thu nhập không phải là cao hơn 12%, mà là phần cao hơn 20% so với vốn chủ sở hữu hiện có. Một loại thuế khác cũng được doanh nhân trong các DNNVV đăc biệt quan tâm, đó là thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao. Thuế này đã nhiều lần sửa đổi, từ 1- 7- 2001 đã áp dụng biểu thức mới: Khởi điểm chịu thuế được nâng từ 2 triệu đồng lên 3 triệu đồng và hạ mức thuế xuất cao nhất xuống còn 50% (Trước đây là 60%). Tuy vậy, doanh nhân trong DNNVV vẫn cho rằng mức này không động viên được những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, hơn nữa điều không hợp lý là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở nước ta đánh đơn thuần vào thu nhập, không tính đến gia cảnh như ở các nước khác. Theo giải thích của cơ quan có trách nhiệm thì đó là tình hình thực tế của nước ta hiện nay; sau này, khi c

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc50196.DOC
Tài liệu liên quan