Để tạo ra bước phát triển mới cho công tác thu hút FDI ở tỉnh Bình Định
trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở các vấn đề đã nghiên cứu, tôi xin có một số kiến
nghị cụ thể sau:
- Tăng cường sự phối hợp và trách nhiệm của các cơ quan Trung ương đối
với việc xử lý hồ sơ, thủ tục liên quan đến cấp giấy chứng nhận đầu tư và kiến nghị
của doanh nghiệp theo đúng thời gian quy định của pháp luật.
- Tập trung chỉ đạo, rà soát lại toàn bộ chủ trương, chính sách, danh mục dự
án kêu gọi FDI; cụ thể hóa, chi tiết hóa các thông tin về từng dự án để tập trung lực
lượng tiến hành vận động, xúc tiến đầu tư.
- Có chính sách hỗ trợ cho người lao động trong các doanh nghiệp FDI, đảm
bảo cho người lao động được nâng cao trình độ, đảm bảo chuyên môn nghiệp vụ và
quyền lợi, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp FDI trên địa bàn.
- Thực hiện mạnh mẽ việc cải cách hành chính, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục
cấp phép đầu tư, mở rộng phạm vi các dự án thuộc diện cấp phép đầu tư. Thường
xuyên theo dõi các dự án đã được cấp phép đầu tư để có những biện pháp tiếp tục
tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp FDI.
- Tổ chức tuyên truyền xây dựng hình ảnh, giới thiệu môi trường đầu tư một
cách thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, bao gồm các ấn phẩm
bằng các ngôn ngữ thông dụng, xây dựng và duy trì, cập nhật Website của tỉnh, danh
mục cơ hội kêu gọi đầu tư, nhất là xây dựng các tóm tắt dự án.
99 trang |
Chia sẻ: anan10 | Lượt xem: 580 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Định hướng và giải pháp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ô đến trung tâm.
2.1.3.2. Nhân lực và cơ sở giáo dục - đào tạo, y tế
- Dân số của tỉnh Bình Định hiện nay khoảng 1,5 triệu người, trong đó người
trong độ tuổi lao động chiếm trên 55%. Cơ cấu dân số trẻ, dưới 30 tuổi chiếm
62,8%, là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho các ngành kinh tế. Tuy nhiên, thị
trường lao động tại Bình Định đang tồn tại nhiều vấn đề như: Mức độ chênh lệch
giữa chất lượng nguồn nhân lực và nhu cầu việc làm còn lớn, đặc biệt là kỹ năng
nghề; chất lượng nghề vẫn là yêu cầu đối với người lao động và cơ sở đào tạo nghề
phải tích cực hoàn thiện; nguồn nhân lực có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn
giỏi vẫn không đủ đáp ứng thị trường lao động.
- Về cơ sở giáo dục - đào tạo, hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định có trường
Đại học Quy Nhơn đào tạo đa lĩnh vực với 46 ngành khác nhau, hiện có trên 15.000
sinh viên theo học và mỗi năm có hơn 3.000 sinh viên tốt nghiệp. Trường Đại học
Quang Trung có 14 ngành học. Trung tâm gặp gỡ quốc tế khoa học đa ngành, có chức
năng tạo lập đầu mối gặp gỡ, giao lưu, trao đổi, chuyển giao khoa học, công nghệ
giữa Việt Nam và các nước; đào tạo, cung cấp các dịch vụ khoa học công nghệ và
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
nh t
ế H
uế
42
dịch vụ liên quan. Khi Trung tâm này đi vào hoạt động sẽ góp phần nâng cao trình độ
của đội ngũ giảng viên tại các trường đại học và từng bước đáp ứng nhu cầu đào tạo
quốc tế tại Bình Định nói riêng và khu vực miền Trung nói chung. Và đây là cơ hội
tốt cho đội ngũ khoa học, trí thức trẻ trong khu vực có điều kiện tiếp cận, trao đổi,
chia sẻ tri thức và kinh nghiệm với đồng nghiệp ở các nước phát triển.
Trường Cao đẳng Bình Định, trường Cao đẳng nghề, trường Cao đẳng y tế,
trường Cao đẳng nghề NN & PTNT Trung Bộ cùng các trường trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề,các cơ sở đào tạo này hàng năm đào tạo hàng ngàn cán bộ
khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề cho tỉnh và khu vực.
- Về cơ sở y tế, hiện nay hệ thống cơ sở y tế của tỉnh gồm: Bệnh viện đa
khoa tỉnh (hạng I, 1.100 giường), 2 bệnh viện đa khoa khu vực cấp tỉnh, 5 bệnh viện
chuyên khoa cấp tỉnh, 10 bệnh viện đa khoa cấp huyện - thành phố, 1 bệnh viên đa
khoa tư nhân, nhiều phòng khám đa khoa tư nhân, đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu
khám chữa bệnh trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
2.1.3.3. Hệ thống điện, nước
* Về cấp điện:
Bình Định có đủ hệ thống lưới điện các loại: Đường dây cao áp, đường dây hạ
áp cùng các trạm biến áp phân phối. Toàn bộ phường, xã trong tỉnh có điện, trong đó
158 phường, xã có điện lưới quốc gia và 1 xã đảo Nhơn Châu dùng điện diesel.
* Về cấp nước:
- Công suất cấp nước của thành phố Quy Nhơn: 45.000 m3/ngày đêm, sẽ
nâng cấp lên 48.000 m3/ngày đêm.
- Công suất cấp nước cho khu công nghiệp Phú Tài: 8.500 m3/ngày đêm.
- Công suất cấp nước cho khu kinh tế Nhơn Hội: 12.000 m3/ngày đêm (giai
đoạn 1 đang xây dựng).
- Công suất cấp nước của 9 thị trấn trong tỉnh: 21.300 m3/ngày đêm.
2.1.3.4. Bưu chính viễn thông
Mạng lưới bưu chính viễn thông với đủ các loại hình dịch vụ có thể đáp ứng
nhanh chóng nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc. Lĩnh vực này tại tỉnh luôn được mở
Trư
ờ g
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
ế
43
rộng và phát triển, đảm bảo cung cấp các dịch vụ và đáp ứng kịp thời nhu cầu về
chuyển phát thư, báo, các loại công văn giấy tờ, bưu phẩm, bưu kiện cho các cơ quan,
đơn vị, tổ chức và nhân dân; tỷ lệ xã có báo trong ngày khoảng 96%. Hiện nay, toàn
tỉnh có 235 điểm phục vụ bưu chính viễn thông, bình quân mỗi điểm phục vụ
6.810 người/km2 với bán kính 2,87 km. Đến nay các doanh nghiệp viễn thông đã
phát triển được 1.017 trạm (tăng 106 trạm so cùng kỳ năm 2011). Tổng số máy
điện thoại trên toàn tỉnh ước tính đến cuối tháng 8/2012 là 1.639.799 máy điện
thoại (trong đó có 1.444.870 máy điện thoại di động và có 241.429 máy điện thoại
cố định), đạt mật độ 115,3 máy/100 dân. Toàn tỉnh có 31.094 thuê bao internet (trong
đó có 26.950 thuê bao ADSL, 4.144 thuê bao gián tiếp).
2.1.3.5. Tài chính, tín dụng
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bình Định ngày càng phát triển. Hiện
nay, tại tỉnh có đủ hệ thống ngân hàng gồm: 20 chi nhánh ngân hàng thương mại
nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần, 27 quỹ tín dụng cơ sở, hàng trăm
phòng giao dịch và điểm giao dịch của các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng từng
bước hiện đại hóa, tiếp cận với công nghệ ngân hàng quốc tế, sẵn sàng cạnh tranh
với các ngân hàng quốc tế chuẩn bị hoạt động tại Việt Nam theo các cam kết hội
nhập. Điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài
thực hiện giao dịch qua ngân hàng nhanh chóng, an toàn và tiện lợi hơn.
2.1.3.6. Tiềm năng du lịch
Với hơn 130 km bờ biển, Bình Định sở hữu nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng, rộng
hàng trăm ha, còn rất hoang sơ, cát trắng mịn thoai thoải, nước biển trong xanh,
quanh năm tràn ngập ánh nắng: Quy Nhơn, Hải Giang, Trung Lương, Tân Thanh,
Vĩnh Hội và nhiều đảo gần bờ: Nhơn Châu, Hòn Khô, Đảo Yến,là nguồn tài
nguyên to lớn cho sự phát triển các sản phẩm về du lịch nghỉ dưỡng biển.
Bình Định còn nổi tiếng với những di tích lịch sử, văn hóa mà bản thân nó là
những mốc son gắn liền với sự hình thành và phát triển của vùng đất huyền thoại
này. Là cái nôi của phong trào Tây Sơn gắn liền với tên tuổi lẫy lừng của người anh
hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ, vùng đất kinh đô của nhiều triều đại có
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
44
bề dày lịch sử truyền thống văn hóa lâu đời với văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa
Chămpa,Tiêu biểu nhất là quần thể di tích lịch sử nhà Tây Sơn, thành Đồ Bàn, 8
cụm với 14 tháp Chàm uy nghi cổ kính và khá nguyên vẹn, trong đó tháp Dương
Long được cho là cụm tháp gạch còn lại cao, đồ sộ và lớn nhất Đông Nam Á.
Ngoài ra, với các dạng địa hình phong phú đã tạo nên một bức tranh thiên
nhiên đặc sắc hòa quyện giữa đồng bằng, đồi núi, sông suối và biển cả, với nhiều
thắng cảnh độc đáo: Ghềnh Ráng - Tiên Sa, bán đảo Phương Mai, Hầm Hô, Hồ Núi
Một, suối khoáng nóng Hội Vân, chùa Hang, đầm Trà Ổ,Đặc biệt, đầm Thị Nại là
đầm nước mặn có diện tích hơn 5000 ha, nằm trên địa phận huyện Tuy Phước, Phù
Cát và thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Bình Định. Bắt ngang qua đầm là cây cầu
Thị Nại nổi tiếng dài gần 2,5 km nối liền trung tâm thành phố Quy Nhơn và khu
kinh tế Nhơn Hội.
Bình Định còn là địa phương nổi tiếng với những bộ môn nghệ thuật độc đáo:
Nghệ thuật hát Bội (Tuồng), một loại hình nghệ thuật vừa bác học nhưng lại vừa
mang tính dân gian gần gũi với quần chúng. Hát Bội là nét văn hóa đặc thù của riêng
Bình Định. Bên cạnh đó, bài Chòi cũng song hành tồn tại với thời gian thể hiện
những nét đặc sắc của một bộ môn nghệ thuật dân tộc gắn liền với vùng quê đầy gió
biển, hương đồng ngọt ngào, dung dị và đằm thắm. Là miền đất võ, Bình Định vang
danh với những làng võ, lò võ và những bài quyền, roi nổi tiếng đã đi vào lịch sử với
câu ca dao: “Ai về Bình Định mà coi / Con gái Bình Định bỏ roi đi quyền”.
Bình Định, nơi hội tụ và giao hòa văn hóa của nhiều dân tộc anh em nên các
hình thức văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống cũng rất đa dạng và phong phú, là
hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc, phản ánh đời sống tinh thần và tâm linh của các
dân tộc như: Lễ hội Đổ Giàn, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội đua thuyền, lễ hội chợ Gò,
Bình Định nổi tiếng với những món ăn đặc sản lạ miệng mang nét đặc trưng
văn hóa của miền đất võ như: Rượu Bàu Đá, Nem chợ huyện, bánh Ít lá gai, bún
Chả cá Quy Nhơn, bánh Hỏi lòng heo, bún Song Thằn,
Thời gian qua, nhờ tập trung triển khai quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng phục
vụ du lịch nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung, bộ mặt các khu đô thị, các
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
45
điểm đến du lịch, cơ sở lưu trú, sản phẩm du lịch Bình Định đã có sự phát triển và
thay đổi khá toàn diện. Hiện Bình Định có trên 100 cơ sở lưu trú, với nhiều khách
sạn và resort cao cấp đáp ứng tốt nhu cầu của du khách. Một số sản phẩm du lịch
mới gắn với thế mạnh tài nguyên du lịch của tỉnh đã thu hút được sự quan tâm của
du khách như du lịch văn hóa - lịch sử; du lịch biển: trượt cát, lặn ngắm san hô,
khám phá các đảo gần bờ,
Nhiều dự án du lịch lớn đang được triển khai: Khu du lịch tâm linh chùa
Linh Phong, khu du lịch biển Hải Giang, Vĩnh Hội,khi hoàn thành đi vào hoạt
động sẽ tạo nên những “điểm nhấn”, sức hút mới cho du lịch, góp phần cho du lịch
Bình Định phát triển nhanh, bền vững, trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
2.1.3.7. Hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế (KCN, KKT)
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Định đã có 32 cụm công nghiệp, diện tích
1.056 ha đi vào hoạt động và đã hình thành 05 KCN, trong đó có 02 KCN (Phú Tài,
Long Mỹ) đã cơ bản được lấp đầy; 01 KCN (Nhơn Hòa) đã cơ bản lấp đầy giai đoạn
1; 02 KCN khác (Hòa Hội, Cát Trinh) đang trong giai đoạn xây dựng hạ tầng kỹ thuật
nhưng cũng tiếp nhận được một số dự án đầu tư thứ cấp và KCN Cát Tân đang trong
quá trình hoàn tất các thủ tục đầu tư xây dựng. KKT Nhơn Hội có diện tích đất tự
nhiên khoảng 12.000 ha, nằm cách biệt trên bán đảo Phương Mai, có quỹ đất lớn, gần
như toàn bộ khu vực xây dựng là nền đất cao, không ngập lụt, cấu tạo địa chất bền
vững, ổn định. Đây là khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, bao gồm 02 khu
chức năng chính: Khu phi thuế quan có diện tích 530 ha, được chia ra nhiều phân khu
chức năng, gồm có: Khu cảng phi thuế quan, khu trung tâm điều hành, giao dịch và
hành chính, khu sản xuất cho các xí nghiệp sản xuất hàng hoá xuất khẩu, khu kho
tàng để lưu giữ hàng hoá và trung chuyển; Khu thuế quan bao gồm KCN, khu phong
điện, khu đô thị mới, khu cảng tổng hợp, khu hậu cần cảng và các khu du lịch. Các
KCN, cụm công nghiệp và KKT này là điều kiện thuận lợi để NĐTNN lựa chọn địa
điểm phù hợp cho việc xây dựng nhà máy, ổn định sản xuất [1].
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
46
2.1.4. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định không ngừng phát
triển. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội được nâng cao, các công trình hạ
tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội được đầu tư phát triển [18], [21].
Năm 2012, tổng sản phẩm địa phương (GDP) tăng 8,37% (kế hoạch 11%).
Trong đó, giá trị tăng thêm của các ngành là: Nông - lâm - thủy sản tăng 5,22% (kế
hoạch 4,5%); công nghiệp - xây dựng tăng 7,99% (kế hoạch 14,2%); dịch vụ tăng
11,56% (kế hoạch 14,1%). Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng -
dịch vụ trong GDP đạt: 34,63% - 27,03% - 38,34% (kế hoạch 33,4% - 28,8% - 37,8%).
Giáo dục, đào tạo, dạy nghề phát triển mạnh về cơ sở vật chất, mở rộng quy
mô và nâng cao chất lượng đào tạo. Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh,
đa dạng hóa các loại hình trường lớp, các loại đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học
tập và phát triển nguồn nhân lực.
Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Hoạt động y
tế dự phòng được đẩy mạnh hơn. Đến cuối năm 2012, toàn tỉnh đã có 152/159 trạm
y tế có bác sĩ (133 xã có bác sĩ tại chỗ, 19 xã tăng cường), đạt tỷ lệ 95,6%. Tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống còn 15,84%, tỷ suất sinh tăng 0,3‰.
Các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, giải quyết việc
làm, xóa đói giảm nghèo được tiếp tục thực hiện. Năm 2012, tạo việc làm mới cho
22.585 người (trong đó xuất khẩu lao động 430 người), đạt 90,3% kế hoạch. Tỷ lệ
hộ nghèo còn 11,5% (theo chuẩn mới), vượt chỉ tiêu theo Nghị quyết đề ra.
Hoạt động văn hóa thông tin đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ của nhân
dân, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống được chú trọng. Phong trào toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được tiếp tục phát triển, 100% địa bàn dân cư
được phủ sóng phát thanh và truyền hình.
Hoạt động khoa học và công nghệ tập trung vào việc nghiên cứu, ứng dụng
nhằm sử dụng có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, góp phần tăng năng suất lao
động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nhiều
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
47
tiến bộ khoa học - công nghệ được ứng dụng đem lại hiệu quả thiết thực như giống
mới, kỹ thuật canh tác phòng trừ dịch, hại tổng hợp, thay đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng.
Bước đầu xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thể thao thành tích
cao của một số môn có thế mạnh của tỉnh như võ thuật, điền kinh, bơi lội, bóng đá,...
Các hoạt động xã hội, chăm sóc người có công với nước được coi trọng. Đã
hoàn thành việc điều chỉnh trợ cấp ưu đãi cho người có công theo Nghị định 32 của
Chính phủ. Công tác vận động quyên góp quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, tặng nhà tình
nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, hỗ trợ nhà ở cho gia đình chính sách, phòng chống tệ
nạn xã hội đạt kết quả tích cực.
Tóm lại, từ đặc điểm của địa bàn nghiên cứu, có thể thấy tỉnh Bình Định có
rất nhiều lợi thế trong việc thu hút đầu tư nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài
nói riêng, đó là: Bình Định là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung;
vị trí địa lý có nhiều thuận lợi; có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên và lao động;
hệ thống cảng biển có tiềm năng khai thác hiệu quả; khu kinh tế Nhơn Hội có nhiều
lợi thế; tình hình kinh tế - xã hội có bước phát triển đáng kể [24].
2.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Bình Định hiện nay
2.2.1. Tình hình thu hút và phân bổ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
2.2.1.1. Tình hình thu hút các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Bình Định luôn xem hoạt động thu hút FDI là một trong những nhiệm vụ quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và góp phần đẩy nhanh sự nghiệp
công nghiệp hóa theo Nghị quyết Tỉnh ủy Bình Định đề ra. Trong giai đoạn 2007 -
2012, Bình Định có thêm 35 dự án mới, nâng tổng số dự án FDI tại tỉnh lên 49 dự án,
với tổng số vốn đăng ký (VĐK) là 432,921 triệu USD, gấp gần 1,5 lần so với tổng số
VĐK ở giai đoạn 1995 - 2006. Kết quả này là thành tựu của việc triển khai nhiều
chương trình, giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư của tỉnh. Cụ thể, lãnh đạo tỉnh
đã tổ chức và tham gia nhiều hoạt động xúc tiến đầu tư lớn, có tính chất vùng và quốc
gia; UBND tỉnh cũng đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi đầu tư như: Hỗ trợ tối
thiểu 50% kinh phí đào tạo công nhân kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, tay
nghề cho lao động là người của địa phương có hợp đồng dài hạn tại các dự án đầu tư
Tr
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
ế H
uế
48
trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ một phần kinh phí cho NĐT tham gia hội chợ triển lãm trong
và ngoài nước; hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu , xây dựng thương hiệu hàng hóa. Bên cạnh
đó, NĐT xây dựng nhà máy trên địa bàn tỉnh còn được cung cấp điện, nước (nơi có
nhà máy nước) hoặc hỗ trợ xác định nguồn nước ngầm, xử lý nước thải, hỗ trợ cung
cấp dịch vụ viễn thông đến hàng rào dự án đối với dự án trong cụm công nghiệp[9]
Bảng 2.1: Tình hình thu hút FDI tại Bình Định giai đoạn 2007 - 2012
TT Năm Số dự án
Vốn đăng ký
(triệu USD)
1
2
3
4
5
6
2007
2008
2009
2010
2011
2012
9
2
4
2
11
7
71,501
33,800
96,860
137,392
64,250
29,118
Tổng 35 432,921
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Biểu 2.1: So sánh vốn đăng ký của các dự án FDI tại Bình Định
giai đoạn 2007 - 2012
Trong giai đoạn này, các KCN, KKT của Bình Định thu hút được 17 dự án
trong 35 dự án FDI nhưng chiếm đến 80,09% tổng số VĐK. Các dự án FDI trong
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
49
các KCN, KKT Bình Định có quy mô đầu tư khá lớn, trung bình khoảng 20,396
triệu USD/dự án, cao hơn 4 lần quy mô đầu tư bình quân của các dự án ngoài KCN,
KKT. Đáng chú ý trong giai đoạn này là dự án Hòn Ngọc Việt Nam - Khu du lịch
nghỉ dưỡng quốc tế 5 sao, VĐK 125 triệu USD (dự án 100% vốn nước ngoài). Nếu
dự án này triển khai hiệu quả sẽ là đòn bẩy phát triển ngành du lịch Bình Định trong
những năm tiếp theo. Năm 2008, khu vực có vốn FDI đạt giá trị sản xuất công
nghiệp 90 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng chỉ bằng 1,6% tổng giá trị sản xuất công nghiệp
cả tỉnh, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 13 triệu USD, bằng 3,2% tổng kim ngạch
xuất khẩu cả tỉnh, tạo việc làm cho khoảng 3.000 lao động (bao gồm cả lao động
thời vụ). Năm 2009, khu vực có vốn FDI đạt giá trị sản xuất công nghiệp 103 tỷ
đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 15 triệu USD, số lao động khoảng 3.200 người.
2.2.1.2. Tình hình phân bổ các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
* Phân bổ theo ngành
Bảng 2.2: FDI trên địa bàn tỉnh Bình Định theo ngành giai đoạn 2007 - 2012
TT Ngành Số dự án
Vốn đăng ký
(triệu USD)
1
2
3
Công nghiệp - Xây dựng
Nông - Lâm - Ngư nghiệp
Dịch vụ
23
1
11
259,9815
5,0000
167,9395
Tổng 35 432,921
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Biểu 2.2: So sánh vốn đăng ký của các dự án FDI phân bổ theo ngành tại
Bình Định giai đoạn 2007 - 2012
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
50
Nhìn vào quá trình thu hút FDI, ta thấy cơ cấu thu hút FDI tương đối phù hợp
với định hướng CNH, HĐH của tỉnh. Vốn đầu tư vào ngành công nghiệp - xây dựng
và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số VĐK hàng năm. Đặc biệt, FDI đăng ký
vào lĩnh vực dịch vụ rất đáng kể. Đáng chú là dự án Hòn Ngọc Việt Nam - Khu du
lịch nghỉ dưỡng quốc tế 5 sao (VĐK 125 triệu USD). Nếu dự án này triển khai hiệu
quả sẽ là đòn bẩy phát triển ngành du lịch Bình Định trong những năm tiếp theo.
* Phân bổ theo đối tác
Bảng 2.3: FDI trên địa bàn tỉnh Bình Định theo đối tác giai đoạn 2007 - 2012
TT Đối tác Số dự án
Vốn đăng ký
(triệu USD)
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Hàn Quốc (KOR)
New Zealand (NZ)
Australia (AUS)
Vương quốc liên hiệp Anh (UK)
Nhật bản (JPN)
Trung Quốc (CHN)
Hồng Kông (HKG)
Đài Loan (TWN)
Đức (GER)
Pháp (FRA)
Mỹ (USA)
Nga (RUSS)
Hà Lan (HOL)
Thái Lan (THA)
Canada (CA)
Singapore (SIN)
Malaysia (MAS)
Ấn Độ (IND)
1
1
1
1
2
9
3
2
3
1
1
1
1
4
1
1
1
1
1,5000
15,0000
0,3125
2,1875
2,0750
99,8300
39,0000
34,0000
26,9680
6,0000
20,8600
125,0000
2,1500
37,5200
14,0000
0,2800
6,0000
0,2380
Tổng 35 432,921
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
51
Trong giai đoạn 2007 - 2012, tại tỉnh Bình Định có nhiều NĐT từ 18 nước và
vùng lãnh thổ đến đầu tư, từ châu Á, châu Âu, châu Úc, châu Mỹ. FDI vào Bình Định
từ các nước châu Á có 24 dự án, chiếm 50,92% VĐK với quy mô bình quân 1 dự án
khoảng 9,18 triệu USD, trong đó Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Thái Lan là
các đối tác chủ yếu. FDI từ các nước châu Âu có 7 dự án, chiếm 37,49% VĐK với
quy mô bình quân 1 dự án khoảng 23,19 triệu USD, cao hơn 2,5 lần so với quy mô
bình quân của các dự án FDI đến từ các nước châu Á. Đối tác lớn ở châu Âu là Đức
(3 dự án), Nga tuy chỉ có 1 dự án nhưng đây lại là dự án có VĐK cao nhất trong giai
đoạn này (125 triệu USD). FDI đến từ châu Mỹ có 2 dự án, chiếm 8,05% VĐK với
quy mô bình quân 1 dự án khoảng 17,43 triệu USD. FDI đến từ châu Úc cũng có 2 dự
án, chiếm 3,54% VĐK với quy mô bình quân 1 dự án khoảng 7,65 triệu USD.
* Phân bổ theo địa phương
Bảng 2.4: FDI trên địa bàn tỉnh Bình Định theo địa phương giai đoạn 2007 - 2012
TT Huyện/Thị xã/Thành phố Số dự án
Vốn đăng ký
(triệu USD)
1 Thành phố Quy Nhơn 25 352,101
2 Thị xã An Nhơn 7 47,820
3 Huyện An Lão 0 0
4 Huyện Hoài Nhơn 1 4,000
5 Huyện Hoài Ân 0 0
6 Huyện Phù Mỹ 0 0
7 Huyện Phù Cát 1 14,000
8 Huyện Vĩnh Thạnh
1 15,000
9 Huyện Tây Sơn
10 Huyện Tuy Phước 0 0
11 Huyện Vân Canh 0 0
Tổng 35 432,921
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
inh
tế H
uế
52
Trong giai đoạn 2007 - 2012, trên địa bàn tỉnh Bình Định, thành phố Quy
Nhơn thu hút được 25/35 dự án của toàn tỉnh với số VĐK 352,101 triệu USD.
Trong đó, KKT Nhơn Hội thu hút được 8 dự án FDI với tổng số vốn 250 triệu USD.
Đáng chú là dự án Hòn Ngọc Việt Nam - Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế 5 sao với
125 triệu USD VĐK. Thị xã An Nhơn xếp thứ 2 với 7/35 dự án FDI, VĐK 47,820
triệu USD. Các huyện Hoài Nhơn, Phù cát, mỗi huyện với lợi thế riêng của mình
nên cũng đã thu hút được 1 dự án ở lĩnh vực khác nhau. Ngoài ra còn có 1 dự án đặt
ở hai địa điểm khác nhau là huyện Tây Sơn và huyện Vĩnh Thạnh, với số VĐK
15,000 triệu USD.
* Phân bổ theo hình thức đầu tư
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Định có 3 hình thức ĐTNN là hình thức liên
doanh, hình thức 100% VNN và hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
Trong giai đoạn 2007 - 2012, hình thức 100% VNN gia tăng nhanh chóng. Trong
khi đó, hình thức liên doanh giảm dần cả về số dự án cũng như VĐK, chứng tỏ tính
kém hấp dẫn của hình thức này. Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
(BCC) cũng không được ưa chuộng, ở Bình Định chỉ có 1 dự án FDI dưới hình thức
BCC (1,2 triệu USD), đó là Hợp doanh truyền hình cáp Quy Nhơn giữa hai đối tác
Việt Nam và Hồng Kông năm 2007.
Bảng 2.5: FDI trên địa bàn tỉnh Bình Định theo hình thức đầu tư
giai đoạn 2007 - 2012
TT Hình thức đầu tư
Số dự án
(DA)
Vốn đăng ký
(triệu USD)
Quy mô bình quân
1 dự án
(triệu USD/DA)
1
2
3
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp 100% VNN
BCC
8
26
1
84,256
347,465
1,200
10,532
13,364
1,200
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Trư
ờng
Đạ
i họ
Kin
h tế
Hu
ế
53
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Bình Định, Niên giám thống kê tỉnh Bình Định 2011
Biểu 2.3: So sánh quy mô bình quân của các dự án FDI phân bổ theo hình thức
đầu tư tại Bình Định giai đoạn 2007 - 2012
Quy mô bình quân của các dự án 100% VNN ở Bình Định lớn hơn nhiều so
với các dự án liên doanh, hình thức đầu tư này được ưa thích và gia tăng mạnh mẽ
trong những năm gần đây, trở thành hình thức FDI chủ lực về số dự án và số vốn tại
Bình Định.
Tóm lại, nhìn toàn cảnh bức tranh FDI trong các năm qua cho ta thấy dòng
FDI vào Bình Định có chiều hướng tốt trong những năm gần đây. Cho đến nay, tác
động của FDI vào phát triển kinh tế - xã hội của Bình Định còn hạn chế, nhưng tỉnh
luôn xác định FDI rất quan trọng vì không chỉ có ưu thế về vốn, công nghệ, kinh
nghiệm quản lý mà còn có tác dụng lôi kéo, thúc đẩy việc đầu tư phát triển của
nhiều ngành, nghề sản xuất kinh doanh từ cả khu vực trong nước và nước ngoài.
2.2.2. Quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Định
2.2.2.1. Tổ chức bộ máy
Sở Kế hoạch và Đầu tư, theo chức năng nhiệm vụ được quy định là cơ quan
quản lý Nhà nước trong lĩnh vực ĐTNN, tham mưu cho UBND tỉnh trong việc xúc
tiền đầu tư, cấp giấy phép đầu tư và phối hợp với các sở, ngành liên quan tháo gỡ
các khó khăn, vướng mắc cho NĐT trong quá trình triển khai dự án. Sở đã thực hiện
cơ chế “một cửa, một đầu mối” trong các thủ tục hình thành dự án, thực hiện theo
Trư
ờn
Đạ
i họ
c K
in
tế H
uế
54
quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ban quản lý
KKT Nhơn Hội, Ban quản lý các KCN tỉnh thực hiện chức năng quản lý hoạt động
ĐTNN trong KKT và các KCN.
2.2.2.2. Cơ chế phối hợp, kiểm tra, quản lý FDI
Việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong tỉnh trong việc hướng dẫn,
hỗ trợ NĐT trước và sau khi cấp phép được thể chế hóa trong chính sách khuyến
khích đầu tư của tỉnh, theo đó quy trình và thời hạn giải quyết thủ tục hành chính
được quy định cụ thể. Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối phối hợp giải
quyết các thủ tục cho NĐT và giúp UBND tỉnh thực hiện công tác quản lý Nhà
nước về ĐTNN trên địa bàn tỉnh.
Sau khi các dự án FDI đã được cấp phép hoạt động, các cơ quan liên quan
của tỉnh Bình Định thường xuyên hỗ trợ, theo dõi, đôn đốc doanh nghiệp thực hiện
các công việc như: khắc dấu, đăng ký mã số thuế, giao nhận địa điểm đầu tư, giải
phóng mặt bằng, nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư, tuyển dụng lao động, báo cáo
tình hình hoạt động, đề nghị điều chỉnh cấp phép,Đồng thời, tỉnh Bình Định sớm
giải quyết các vấn đề mà doanh nghiệp đề đạt và kiên quyết rút giấy phép đối với
các dự án không đủ điều kiện triển khai hoặc triển khai không đúng với lộ trình cam
kết của tỉnh.
Hàng năm, tỉnh Bình Định tổ chức buổi gặp mặt giữa lãnh đạo tỉnh với các
doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh
nghiệp. Ngoài ra, cơ quan xúc tiến đầu tư của tỉnh thường xuyên lắng nghe ý kiến
phản hồi của các NĐTNN để đề xuất các biện pháp tháo gỡ những vướng mắc gặp
phải trong quá trình đầu tư và kinh doanh tại tỉnh.
Trong quá trình xem xét, thẩm định các dự án có vốn nước ngoài liên quan
đến địa điểm xây dựng đều có ý kiến của các ngành liên quan, địa điểm phải nằm
trong quy hoạch được duyệt, không ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng.
Đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư với cơ quan công an
trong quá trình tiếp xúc với các đối tác nước ngoài, cơ quan công an đã kịp thời
Trư
ờng
Đạ
i họ
c K
nh t
ế H
uế
55
cung cấp các thông tin liên quan đến tư cách pháp nhân của đối tác, giúp cho việc
xem xét quyết định đầu tư của cơ quan quản lý Nhà nước.
2
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- dinh_huong_va_giai_phap_thu_hut_dau_tu_truc_tiep_nuoc_ngoai_o_tinh_binh_dinh_trong_giai_doan_hien_na.pdf