Luận văn Thực tiễn công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh

LỜI CAM KẾT.i

LỜI CẢM ƠN .ii

MỤC LỤC. iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU .vii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ.viii

MỞ ĐẦU .1

1.Tính cấp thiết của đề tài. 1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài . 4

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài . 6

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài . 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu.7

4.2 Phạm vi nghiên cứu.7

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài . 8

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài . 8

7. Kết cấu của luận văn. 9

CHưƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THANH TRA VIỆC CHẤP HÀNH CHÍNH

SÁCH PHÁP LUẬT TRONG ĐẦU Tư XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG

NGÂN SÁCH NHÀ NưỚC.10

1.1 Khái quát chung về thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật

trong đầu tư xây dựng cơ bản. 10

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật 10

1.1.1.1 Khái niệm thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật. 10

1.1.1.2 Đặc điểm thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật. 15

1.1.2 Khái quát chung về đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà

nước .18

1.1.2.1 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản 18

1.1.2.2 Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản.21

1.1.2.3 Khái niệm ngân sách Nhà nước.23

1.1.2.4 Đặc điểm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.25

1.1.3 Vai trò của thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư

xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước.28

pdf96 trang | Chia sẻ: honganh20 | Ngày: 25/02/2022 | Lượt xem: 286 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Thực tiễn công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nhân sử dụng NSNN để tiến hành các hoạt động ĐTXDCB bao gồm: (1) Dự án được thanh tra và chủ đầu tư; (2) các tổ chức, cá nhân có liên quan5. Chủ yếu là các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương như Chính phủ, các bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan hành chính bằng hành vi của mình đảm bảo cho việc ĐTXDCB có sử dụng NSNN đúng pháp luật, đúng tiêu chuẩn chất lượng và khối lượng thi công, đáp ứng yêu cầu của nhân dân. Hoạt động thanh tra việc chấp hành, chính sách pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN không hướng 5 Bao gồm: Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án; Tư vấn lập dự án đầu tư; Tư vấn thẩm tra, thẩm định Dự án đầu tư; Tư vấn thiết kế, lập dự toán; Tư vấn thẩm tra, thẩm định th1`iết kế, dự toán; Tư vấn lập hồ sơ mời thầu; Tư vấn giám sát; Tư vấn quản lý dự án (nếu có); Tư vấn kiểm tra, thẩm định chất lượng; Nhà thầu thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị 33 vào các đối tượng là các doanh nghiệp mà hướng vào việc xem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ cũng như hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước. Thứ tư, đặc điểm về thẩm quyền ra quyết định: Như đã nói ở trên, thanh tra việc chấp hành, chính sách pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN bản chất là thanh tra hành chính nên tại Điều 43 Mục 2 Luật Thanh tra năm 2010 quy định về thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính như sau: 1. Hoạt động thanh tra chỉ được thực hiện khi có quyết định thanh tra. 2. Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra. Khi xét thấy cần thiết, Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra” Tuy nhiên, chưa phân rõ quyền hạn của các cơ quan thanh tra về thẩm quyền riêng của mình đối với hoạt động thanh tra. Với Nghị định số 86/2011/NĐCP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ đã quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thanh tra 2010 thể hiện một cách rõ ràng hơn về thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính tại các Điều 19, 20 Mục 1 Chương II Nghị định về thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính theo kế hoạch và ra quyết định thanh tra đột xuất6. 6 “Điều 19. Thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính theo kế hoạch: 1. Căn cứ kế hoạch thanh tra, Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.2. Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị; căn cứ kế hoạch thanh tra, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn Thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra.3. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành; căn cứ kế hoạch thanh tra, Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Điều 20. Thẩm quyền ra quyết định thanh tra hành chính đột xuất: 1. Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật; theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp giao. 2. Căn cứ khoản 1 Điều này, Tổng Thanh tra Chính phủ, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra và gửi quyết định thanh tra đột xuất đến Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp để báo cáo. 3. Đối với vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra đột xuất, thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. 4. Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thanh tra đột xuất và thành lập Đoàn thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra”. 34 Thứ năm, đặc điểm về quy trình: Quy trình thanh tra ĐTXD có sử dụng NSNN bao gồm ba giai đoạn với những công việc cụ thể như sau: Bước 1: Chuẩn bị thanh tra: (1) Thu thập thông tin; (2) Lập báo cáo khảo sát; (3) Lập kế hoạch thanh tra; (4) Ra quyết định, phê duyệt kế hoạch thanh tra; (5) Chuẩn bị triển khai thanh tra. Bước 2: Tiến hành thanh tra: (1) Thanh tra về trình tự, thủ tục ĐTXD; (2) Thanh tra việc quyết định đầu tư; (3) Thanh tra về tổng mức đầu tư; (4) Thanh tra việc huy động, bố trí, phân bổ và giải ngân nguồn vốn đầu tư; (5) Thanh tra hiệu quả dự án; (6) Thanh tra về khảo sát; (7) Thanh tra về thiết kế; (8) Thanh tra về dự toán; (9) Thanh tra việc xác định giá gói thầu, trúng thầu, chỉ định thầu; (10) Thanh tra việc xác định giá trị hợp đồng kinh tế; (11) Thanh tra công tác thanh toán vốn đầu tư xây dựng hoàn thành; (12) Thanh tra về công tác thi công xây dựng công trình; (13) Thanh tra về quản lý chất lượng công trình; (14) Thanh tra công tác đền bù, giải phóng mặt bằng. Bước 3: Kết thúc thanh tra: (1) Báo cáo kết quả thanh tra; (2) Xây dựng và công bố kết luận thanh tra; (3) Hoàn tất hồ sơ thanh tra; (4) Tổng kết hoạt động của thanh tra. Thứ sáu, đặc điểm về thời hạn: Điều 45 Luật thanh tra 2010 quy định về thời hạn thanh tra hành chính như sau: 1. Thời hạn thực hiện một cuộc thanh tra được quy định như sau: a. Cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành không quá 60 ngày, trưởng hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá 90 ngày. Đối với cuộc thanh tra đặc biệt phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá 150 ngày; b. Cuộc thanh tra do Thanh tra Tỉnh, Thanh tra Bộ tiến hành không quá 45 ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài nhưng không quá 70 ngày; c. Cuộc thanh tra do Thanh tra huyện, Thanh tra Sở tiến hành không quá 30 ngày, ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa đi lại khó khan thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày. 2. Thời hạn của cuộc thanh tra được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra. 3. Việc kéo dài thời hạn thanh tra quy định tại khoản 1 Điều này do người ra quyết định thanh tra quyết định”. 35 1.2.3. Nội dung về pháp luật thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước Xuất phát từ khái niệm, đặc điểm của pháp luật thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước như đã nêu ở trên, nội dung pháp luật thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN phải thể hiện sự điều chỉnh đầy đủ, toàn diện đối với các quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các hoạt động của thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN là một loại hình hoạt động của Nhà nước nên thường làm phát sinh nhiều loại quan hệ xã hội khác nhau, bao gồm các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của hoạt động thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Các mối quan hệ bên trong của thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN thể hiện mối quan hệ tổ chức, hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước về thanh tra; Mối quan hệ trong tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan thực hiện thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Các mối quan hệ bên ngoài của thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan thực hiện công tác thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN với chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác thanh tra ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Trong quá trình thực hiện chức năng thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN, các mối quan hệ này chi phối lẫn nhau và tạo nên trật tự pháp luật về thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Tuy nhiên, dựa vào tính chất của các mối quan hệ, chúng ta có thể phân chia chúng làm hai nhóm quan hệ chủ yếu là: (1) Nhóm quan hệ mang tính chất nội dung; (2) Nhóm quan hệ mang tính chất tổ chức và quản lý. 36 - Nhóm quan hệ mang tính chất nội dung: Đây là quan hệ phản ánh nội dung việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN (Cụ thể như: Trình tự lập, thẩm định, phê duyệt dự án ĐTXD, tổng mức đầu tư; Công tác giải phóng mặt bằng xây dựng, điều kiện khởi công xây dựng công trình; Trình tự công tác khảo sát xây dựng, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế - tổng dự toán, dự toán công trình; Việc áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng; Công tác lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng; Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng; thanh quyết toán công trình; Điều kiện, năng lực hoạt động xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, nhà thầu tư vấn xây dựng và nhà thầu thi công xây dựng công trình và các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; Việc thực hiện an toàn lao động, bảo vệ tính mạng con người và tài sản, phòng, chống cháy nổ, vệ sinh môi trường trong công trường xây dựng; Trách nhiệm của tổ chức, các nhân trong việc lập nhiệm vụ quy hoạch xây dựng; nội dung quy hoạch xây dựng, thẩm quyền, thẩm định và phê duyệt, điều chỉnh và thực hiện, quản lý xây dựng theo quy hoạch; Việc lập và tổ chức thực hiện các định hướng phát triển nhà; các chương trình, dự án phát triển các khu đô thị mới; Việc lập và tổ chức thực hiện định hướng quy hoạch, kế hoạch chương trình, dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị; Việc thực hiện quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng và việc quản lý chất lượng vật liệu xây dựng đưa vào công trình; Việc lập, phân bổ và giao dự toán NSNN; Việc chấp hành dự toán NSNN; Việc chấp hành các quy định trong công tác kế toán, quyết toán, công khai NSNN phục vụ cho ĐTXDCB; Việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, việc sử dụng tài sản công trong ĐTXDCB và thực hiện các quy định các của pháp luật về ĐTXDCB có sử dụng NSNN). Các quyết định về thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN (Quyết định thanh tra; Quyết định thu hồi tài sản; Quyết định thu hồi tiền; Quyết định kiểm kê tài sản; Quyết định niêm phong). Các quy định, quyết định đó là căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các cơ quan thanh tra cũng như quyền và nghĩa vụ của các đối tượng liên quan đến hoạt động thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN có trách nhiệm thi hành. 37 Những quan hệ mang tính chất nội dung chủ yếu là quan hệ giữa cơ quan thanh tra và những đối tượng liên quan thuộc phạm vi của hoạt động thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Từ những quan hệ chủ yếu này sẽ phát sinh nhiều mối quan hệ khác trong quá trình thanh tra nhằm đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình chấp hành chính sách, pháp luật có liên quan. Cụ thể là quyền và nghĩa vụ của các đối tượng thanh tra được nêu tại Điều 57, 58 Luật Thanh tra năm 2010 như: quyền được giải trình về vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra; khiếu nại về quyết định, hành vi, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra; khiếu nại về kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra theo quy định của pháp luật về khiếu nại; Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ chấp hành quyết định thanh tra; cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu theo yêu cầu; thực hiện yêu cầu, kiến nghị, kết luận thanh tra, quyết định xử lý - Nhóm quan hệ mang tính tổ chức và quản lý liên quan đến việc hình thành cơ chế, hệ thống tổ chức và hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Đây là nhóm các quan hệ phát sinh trong quá trình hình thành tổ chức, hoạt động và cơ chế quản lý của các cơ quan thanh tra. Các quan hệ này liên quan đến quy định về thẩm quyền và quy chế hoạt động của cơ quan thanh tra thực hiện thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN. Những mối quan hệ này thể hiện cụ thể trong thực tiễn như: Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan thanh tra; mối quan hệ giữa các cơ quan thanh tra với nhau về cơ cấu tổ chức, hoạt động trong hệ thống các cơ quan thanh tra, của cơ quan thanh tra cấp trên và cơ quan thanh tra cấp dưới Trong thực tiễn, các mối quan hệ này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau và được quy định rõ ràng về thẩm quyền hoạt động. Tuy nhiên, vẫn có sự chồng chéo, trùng lặp với nhau trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ đặc 38 biệt trong việc xây dựng kế hoạch thanh tra, thực hiện các kết luận, kiến nghị thanh tra. Do đó, nếu x các định được đúng đắn và có sự phân cấp, phân quyền rõ ràng các mối quan hệ trong quá trình tổ chức, hoạt động và quản lý về công thanh tra sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh tra nói chung và hoạt động thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN nói riêng. Như vậy, pháp luật về thanh tra thanh tra việc chấp hành, chính sách pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thanh tra ĐTXDCB có sử dụng NSNN quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong quản lý, tổ chức thanh tra việc chấp hành, chính sách pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân, góp phần đảm bảo trật tự trong ĐTXDCB, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Pháp luật về thanh tra việc chấp hành, chính sách pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN là một phần trong hệ thống pháp luật của nước ta. Việc nghiên cứu về lý luận liên quan đến pháp luật về thanh tra việc chấp hành, chính sách pháp luật trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN góp phần bổ sung và hoàn thiện về pháp luật thanh tra ĐTXDCB nói riêng và hệ thống pháp luật thanh tra nói chung nhằm bảo đảm việc thực thi pháp luật đạt được hiệu quả cao nhất. 39 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA VIỆC CHẤP HÀNH CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT TRONG ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH 2.1 Khái quát chung về thị xã Quảng Yên và cơ quan Thanh tra thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 2.1.1 Khái quát chung về thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh Thị xã Quảng Yên nằm ở ven biển phía Tây Nam tỉnh Quảng Ninh – một tỉnh nằm ở địa đầu Đông Bắc Tổ quốc, nơi hội tụ đẩy đủ các yếu tố đặc thù về điều kiện vị trí, địa hình, tự nhiên, xã hội, kinh tế, con người Việt Nam; có rừng vàng, biển bạc, sông núi, nước non, đường biên giới đất liền với Trung Quốc và đường biên giới biển thông ra thế giới. Thị xã Quảng Yên cách Thành phố Hạ Long 40km, cách cảng Hải Phòng 20km, phía Bắc giáp Thành phố Uông Bí, phía Tây và Tây Nam giáp địa phận Thành phố Hải Phòng. Diện tích tự nhiên 31.420,2 ha, 148.820 nhân khẩu và 19 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 11 phường và 8 xã . Thị xã Quảng Yên có vị trí trung tâm của đường cao tốc nối giữa Hạ Long và Hải Phòng, là cầu nối liên kết phát triển giữa Quảng Ninh với Hải Phòng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Đặc biệt, sự phát triển của cảng biển Hải Phòng gần kề là cơ hội để Quảng Yên khai thác các cảng sông Chanh, sông Bạch Đằng cùng với việc phát triển kinh tế cảng biển và công nghiệp phụ trợ. Năm 1802, Vua Gia Long ra sắc lệnh thành lập trấn Yên Quảng bao gồm toàn miền Đông Bắc Tổ quốc và lấy thị xã Quảng Yên làm trấn lỵ. Đến năm 1822, vua Minh Mệnh đổi thành trấn Quảng Yên. Năm 1832, tỉnh Quảng Ninh được thành lập và trấn lỵ Quảng Yên đổi thành tỉnh lỵ Quảng Yên. Suốt thời nhà Nguyễn và thời kỳ Pháp thuộc, Quảng Yên luôn là trung tâm hành chính cấp tỉnh. Ngày 24/8/1945, chính quyền cách mạng được thành lập ở Quảng Yên và lấy Quảng Yên làm tỉnh lỵ. Ngày 02/7/1964, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 106/HĐCP chuyển đổi thị xã Quảng Yên thành thị trấn Quảng Yên (đô thị loại V) thuộc huyện Yên Hưng. Ngày 25/01/2011, Bộ Xây dựng công nhận thị trấn Quảng Yên, huyện Yên Hưng là đô thị loại IV. Qua một thời gian đầu tư xây dựng hoàn thiện các tiêu chuẩn của đô thị loại 40 IV, hệ thống hạ tầng kỹ thuật từng bước được cải thiện đặc biệt là hệ thống hạ tầng giao thông. Hầu hết các tuyến đường trục trong thị xã đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp. Hệ thồng hạ tầng xã hội như trường học, trạm y tế, trụ sở, các cơ sở văn hóa, thể dục thể thao được đầu tư đảm bảo chuẩn của ngành và từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn của đô thị và tiêu chí nông thôn mới. Trong những năm gần đây, nhờ các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước và sự quan tâm đầu tư của tỉnh Quảng Ninh nên tình hình kinh tế xã hội của thị xã Quảng Yên không ngừng phát triển; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; chủ trương xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực; Quảng Yên đã và đang có sự phát triển theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt, ngày 25/11/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP thành lập thị xã Quảng Yên và các phường thuộc thị xã, Quảng Yên được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là các công trình trọng điểm, các tuyến giao thông chính, hạ tầng đồ thị và nông thôn, đang tạo ra diện mạo và cơ hội mới, sáng, xanh, sạch, đẹp văn minh cho sự phát triển nhanh, bền vững. 2.1.2 Cơ quan Thanh tra thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 2.1.2.1 Vị trí, chức năng Thanh tra thị xã Quảng Yên Thanh tra thị xã Quảng Yên là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã, được thành lập vào năm 1979, với tên gọi là Ủy ban Thanh tra huyện Yên Hưng, biên chế gồm 03 đồng chí. Từ đó tới nay, với nhiều tên gọi và hình thành tổ chức khác nhau, Thanh tra thị xã Quảng Yên đã không ngừng được củng cố, phát triển về mọi mặt, đội ngũ cán bộ, công chức Thanh tra thị xã Quảng Yên có năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị vững vàng, luôn phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã. Thanh tra thị xã Quảng Yên có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. 41 Thanh tra thị xã chịu sự chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp và chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra tỉnh Quảng Ninh. 2.1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn Trong quản lý Nhà nước về thanh tra thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã Quảng Yên, Thanh tra thị xã có nhiệm vụ, quyền hạn như sau: Xây dựng kế hoạch thanh tra trình Chủ tịch UBND thị xã phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch đó; báo cáo kết quả về công tác thanh tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra của Chủ tịch UBND thị xã, Thanh tra thị xã. Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra thị xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã, của UBND các phường, xã; thanh tra vụ việc phức tạp, có liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã, UBND các phường, xã; thanh tra vụ việc khác do Chủ tịch UBND thị xã giao. Thanh tra thị xã có nhiệm vụ giúp UBND thị xã quản lý Nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo; giúp UBND thị xã quản lý Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng; thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã, UBND các phường, xã trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra; tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác thanh tra trong phạm vi quản lý Nhà nước của UBND thị xã và thực hiện7. 2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức của Thanh tra thị xã Quảng Yên Trong điều kiện mô hình tổ chức bộ máy thanh tra thực hiện theo Luật Thanh tra năm 2010, Thông tư liên tịch số 03/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014 7 Theo quy định tại Điều 27, Luật Thanh tra năm 2010 và Điều 16 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra. 42 của Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ; Đề án phát triển ngành thanh tra tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2016 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 3276/QĐ- UBND ngày 04/10/2016 của UBND tỉnh Quảng Ninh; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức được cấp có thẩm quyền phê duyệt, từ năm 2015 - 2017, UBND thị xã Quảng Yên bố trí 06 biên chế công chức làm công tác thanh tra, theo cơ cấu chuyên môn hợp lý, trên cơ sở vị trí việc làm gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính của thị xã được UBND tỉnh Quảng Ninh giao. Thanh tra thị xã có 01 Chánh thanh tra, 02 Phó Chánh thanh tra và các thanh tra viên. Tuy nhiên, số công chức có mặt từ năm 2015 - 2017 chỉ có 05 biên chế. Chính vì vậy, với khối lượng công việc ngày càng tăng, nhiệm vụ được giao ngày càng nhiều, lực lượng công chức Thanh tra thị xã Quảng Yên đã nỗ lực không ngừng để hoàn thành kế hoạch đã được phê duyệt và nhiệm vụ được giao. 2.2 Tình hình đầu tƣ xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nƣớc tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh 2.2.1 Tình hình và cơ cấu chi đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN Thị xã Quảng Yên có nguồn thu ngân sách còn hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách cấp trên bổ sung. Nhưng thị xã luôn dành một nguồn vốn lớn trong ĐTXDCB, trong lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất là ĐTXD kết cấu hạ tầng. Hàng năm thị xã Quảng Yên đã ban hành các Nghị quyết về các giải pháp chủ yếu chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước; hàng tháng đều có các Nghị quyết về phiên họp HĐND và UBND thường kỳ, trong đó đối với lĩnh vực ĐTXDCB đã đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, chống lãng phí, thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước; đồng thời UBND thị xã giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị, địa phương trong triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển. Về quản lý qui hoạch, cơ quan, đơn vị, địa phương đã tập trung rà soát, điều chỉnh quy hoạch, đảm bảo sự phù hợp giữa quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch phát triển vùng, lãnh thổ, địa phương. 43 Bảng 2.1: Chi đầu tƣ xây dựng từ ngân sách Nhà nƣớc tại thị xã Quảng Yên ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 KH năm 2018 So sánh 2016/2015 2017/2016 % % Tổng chi ngân sách 750.472 804.524 1.067.078 856.816 107,202 132,635 Chi ĐTXDCB 88.912 73.211 192.607 182.421 82,342 263,083 Tỷ lệ chi ĐTXDCB/ Tổng chi ngân sách (%) 11,8 9,1 18,0 21,3 76,8 198,4 (Nguồn: Báo cáo quyết toán chi NSNN thị xã Quảng Yên năm 2015 - 2017 và Kế hoạch 2018) Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy trong giai đoạn 2015 – 2018, vốn chi cho ĐTXDCB tăng lên, tỷ trọng trong hai năm 2015 và 2016 có chậm lại và qua các năm đều có sự biến động tăng – giảm nhưng ĐTXDCB vẫn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi ngân sách của thị xã Quảng Yên. Về kế hoạch đầu tư, việc bố trí vốn đầu tư trong những năm qua tại thị xã Quảng Yên đã được tập trung cho các công trình trọng điểm, công trình có sức lan tỏa cao, khắc phục từng bước tình trạng đầu tư dàn đều, phân tán nguồn lực. Các công trình tập trung đầu tư cho phát triển sự nghiệp y tế, giáo dục, giao thông, thủy lợi và phát triển nông nghiệp, nông thônUBND thị xã quyết định việc lập và phê duyệt danh mục triển khai dự án hàng năm theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã, đảm bảo cơ cấu đầu tư và cân đối ngân sách, thông qua HĐND thị xã trước khi quyết định đầu tư. Chủ tịch UBND thị xã Quảng Yên quyết định đầu tư đối với các dự án, công trình nhóm B, C8 trong phạm vi nhiệm vụ chi và khả năng cân đối ngân sách thị xã sau khi đã

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_thuc_tien_cong_tac_thanh_tra_viec_chap_hanh_chinh_s.pdf
Tài liệu liên quan