Đề tài Một số giải pháp Marketing để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu hàng nông sản ở Công ty kinh doanh Xuất nhập khẩu Viêt - Lào

Lời nói đầu 1

CHƯƠNG I. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU 3

I. TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU 3

1. KHÁI NIỆM CHIẾN LƯỢC, YÊU CẦU VÀ Ý NGHĨA CỦA CHIẾN LƯỢC 3

1.1. Khái niệm chiến lược : 3

2. TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU 4

3. VAI TRÒ CỦA KINH DOANH XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY 5

4. MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH DOANH XUẤT KHẨU QUỐC TẾ 5

4.1. Tác lực kinh tế : 5

4.2. Tác lực thể chế và pháp lý : 6

4.3. Tác lực xã hội : 6

4.4. Tác lực tự nhiên : 6

4.5. Tác lực công nghệ : 6

II. NỘI DUNG CỦA CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU 7

1. XÁC ĐỊNH CÁC MỤC TIÊU CỦA CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU 7

2. Lựa chọn giải pháp về chính sách trong marketing - Mix 7

2.1 . Chính sách sản phẩm : 8

2.2. Chính sách giá cả : 8

2.3. Chính sách phân phối : 8

2.4. Chính sách xúc tiến yểm trợ : 8

3. XÁC ĐỊNH NGUỒN LỰC VÀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC CHO GIẢI PHÁP MARKETING XUẤT KHẨU 9

3.1. Nguồn lực nhân sự 9

3.2. Nguồn vốn 9

3.3. Khoa học và công nghệ kinh doanh xuất nhập khẩu 9

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CHIẾN LƯỢC MARKETING XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT - LÀO 11

1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ 11

1.1. Quá trình hình thành 11

1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty 12

doc40 trang | Chia sẻ: NguyễnHương | Ngày: 22/07/2017 | Lượt xem: 373 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Một số giải pháp Marketing để hoàn thiện chiến lược xuất khẩu hàng nông sản ở Công ty kinh doanh Xuất nhập khẩu Viêt - Lào, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hẩu. - Liên doanh liên kết hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. - Xuất khẩu lao động nhằm tăng thu nhập cho người lao động đồng thời làm tăng nguồn thu ngoại tệ đối với Nhà nước. 1.2.2. Nhiệm vụ Các nhiệm vụ chủ yếu của Công ty VILEXIM là : - Đẩy mạnh và phát triển quan hệ Thương mại, hợp tác đầu tư thông qua hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động khác có liên quan đến kinh tế đối ngoại với các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài. - Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của Công ty theo quy chế hiện hành để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của Công ty. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh doanh của Công ty. - Tuân thủ các chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước và quản lý kinh tế tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và trong giao dịch đối ngoại thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết hợp đồng kinh tế mà Công ty đã ký. - Trực tiếp xuất nhập khẩu hàng hoá giữa nước ta với Lào và một số nước khá, xuất khẩu trực tiếp những sản phẩm do Công ty liên doanh sản xuất; nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho liên doanh sản xuất của Công ty. - Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu và nhận làm các dịch vụ thuộc phạm vi kinh doanh của Công ty theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. - Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả nâng cao chất lượng của hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. 2. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 2.1. Sơ đồ tổ chức của Công ty (phụ lục 1) 2.2. Chức năng của các phòng ban Giám đốc : Do Bộ trưởng Bộ Thương mại trực tiếp bổ nhiệm, Giám đốc trực tiếp điềuhành Công ty theo chế độ một thủ trưởng và có toàn quyền quyết định mọi hoạt động của Công ty Hai Phó giám đốc : giúp việc cho giám đốc chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp lên giám đốc, một phụ trách chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, đại diện tại Viên Chăn - Lào, lãnh đạo các hoạt động của chi nhánh, một Phó giám đốc phụ trách về xuất nhập khẩu, hành chính quản trị phụ trách của Công ty, các kho Pháp Vân, Cổ Loa, liên doanh đầu tư. Dưới Giám đốc và Phó giám đốc là các phòng ban, văn phòng đại diện chi nhánh trực thuộc cụ thể : Phòng Tổ chức hành chính : thực hiện chế độ chính sách đối với nhân viên tuyên truyền quảng cáo thi đua, thực hiện công tác hành chính văn thư lưu trữ, công tác quản trị Công ty đảm bảo các điều kiện để Giám đốc và bộ máy hoạt động có hiệu quả. Phòng Kế toán - Tài vụ : phụ trách hoạt động tài chính, xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm, dài hạn và đề xuất các biện pháp điều hoà vốn, trích lập các quỹ, hướng dẫn và kiểm tra chế độ kế toán thống kê. Phòng Kế hoạch tổng hợp : phòng giữ vai trò tổng hợp, báo cáo lên ban lãnh đạo tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty từng tháng, từng quý và đưa ra các biện pháp tháo gỡ những khó khăn cho Công ty, đề xuất các phương án kinh doanh có hiệu quả. Phòng Dịch vụ Đầu tư : đảm trách nhiệm vụ tổ chức thực hiện bán buôn, bán lẻ với những khách hàng, những lô hàng nhập khẩu của Công ty, cung cấp thông tin về thị trường, giá cả nguồn hàng trong nước cho cho các phòng ban trong Công ty cụ thể là các phòng xuất nhập khẩu. Phòng Xuất nhập khẩu (I, II, III, IV,V, VI ) : Các phòng này được coi là trụ cột của Công ty, chịu trách nhiệm thực hiện các khâu trong kinh doanh đối ngoại như kinh doanh hàng xuất nhập khẩu trực tiếp, uỷ thác tổ chức thực hiện quá trình kinh doanh, vạch ra những kế hoạch nhập xuất hàng hoá tối ưu nhất, tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường khách hàng, nguồn hàng. Một số nét về các phòng XNK Xuất khẩu : Gạo, cà phê, cao su, chè, hồi, quế... tại các thị trường Lào, Nhật, Malayxia, Hàn quốc, Singapore, ấn độ , Pakistan... Nhập khẩu : Giấy, vòng bi, máy bơm nước, bình lọc nước, phụ tùng ôtô, máy xúc ủi, dây điện từ, sợi ... tại các thị trường Inđônêxia, Singapore, ấn độ, Nhật, Hàn quốc, Đức, Arập, Malayxia ... Mối quan hệ đối với các phòng ban : - Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của giám đốc - Mọi công việc báo cáo với phòng kế hoạch - Đối với mỗi hợp đồng xuất - nhập khẩu đều phải lập báo cáo các phương án thông qua phòng tài vụ - Xuất nhập khẩu hàng chịu sự quản lý của kho - Công văn đến đi, hợp đồng nội ngoại qua phòng hành chính đóng dấu - Tiền thu về từ các hoạt động kinh doanh nộp cho thủ quỹ Chi nhánh và văn phòng đại diện : Trưởng chi nhánh và văn phòng đại diện có quyền quyết định và quản lý mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh, văn phòng đại diện cơ quan có quan hệ với các cơ quan chủ quản cấp trên, với các ngành, các đơn vị kinh doanh, trong và ngoài nước. Đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc, trước pháp luật và tập thể CBCNV của chi nhánh về quá trình hoạt động của mình. 3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian gần đây 3.1. Tình hình tài chính của Công ty Vốn là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh đối với mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động thương mại. Khả năng tài chính là cơ sở để các doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng loại công nghệ phù hợp, xác định quy mô sản xuất. Công ty xuất nhập khẩu Việt - Lào là một doanh ngiệp Nhà nước ra đời vào thời kỳ bắt đầu chuyển đổi nền kinh tế, Là một doanh nghiệp đầy đủ tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán độc lập với số vốn ban đầu là 7.370.900.000 đồng (2000). Do Công ty không lấy hoạt động sản xuất kinh doanh làm trọng tâm mà chủ yếu là kinh doanh xuất nhập khẩu nên việc phân bổ nguồn vốn của Công ty chủ yếu tập trung vào vốn lưu động chiếm khoảng 59% giá trị tài sản. Trong quá trình phát triển nguồn vốn của Công ty luôn được mở rộng và phát triên cả về nguồn vốn cố định và vốn lưu động. Bảng 1: Tình hình tài chính của Công ty qua từng năm ( ĐVT : đồng) STT Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 1 Vốn cố định 5.757.475.000 5.959.708.207 7.000.000.000 2 Vốn lưu động 3.474.561.000 5.757.474.539 10.000.000.000 3 Vốn ngân sách NN 3.018.292.000 4 Vốn tự bổ sung 6.213.726.000 ( Nguồn VILEXIM ) Từ bảng trên ta có thể thấy nguồn vốn của Công ty tăng lên khá nhanh trong vòng 3 năm từ 1998- 2000 với tỉ lệ tăng bình quân là 28,04%. Điều này cho thấy khả năng tự tích luỹ của Công ty là rất cao. 2. Tình hình hoạt động xuất nhập khẩu từ năm 1998 - 2002 Từ khi thành lập đến nay, Công ty có quan hệ hợp tác với trên 40 nước bạn hàng trên thế giới, trong đó chủ yếu là các nước Châu á như: Nhật bản, Trung Quốc, Lào, Singapore, Inđônêxia, Đài Loan... Trong những năm qua, kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty tương đối ổn định, thể hiện qua bảng sau: Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty giai đoạn từ 1998 - 2002 ( ĐVT: Triệu USD ) Chỉ tiêu Năm 1998 1999 2000 2001 2002 Kim ngạch XNK 15,904 21,223 19,298 25,394 25,14 Xuất khẩu 6,57 6,464 10,546 11,888 11,781 Nhập khẩu 9,394 14,835 8,752 13,406 13,359 Nguồn: VILEXIM Bảng thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu trong mấy năm qua cho thấy, kim ngạch XNK hàng năm khá ổn định, tỷ lệ tăng giảm khoảng 10%. Mặc dù năm 1998 có giảm đáng kể song kim ngạch xuất nhập đã tăng và trở lại ổn định ngay trong naưm tiếp theo. Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu ngày càng được cải thiện, năm 2000 đã đạt xuất siêu. Năm 2002 vừa qua, do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, giá các mặt hàng nông sản thế giới giảm trong khi giá thu mua trong nước không giảm, gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động xuất khẩu của cả nước nói chung và của Công ty nói riêng. Tuy nhiên, Công ty cũng đã hết sức cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu phù hợp với chính sách của Nhà nước. Kim ngạch xuất khẩu gần đạt mức kế hoạch đề ra (khoảng 98%). Nhập khẩu chỉ tăng khoảng 10% so với chỉ tiêu đặt ra. Trong hoàn cảnh trình độ công nghệ nước ta còn lạc hậu, sức cạnh tranh của hàng hoá còn kém, mặc dù đã rất cố gắng nhưng cán cân thương mại chưa được cải thiện nhiều. Hơn 10 năm đổi mới, nước ta đã nhập siêu khoảng 16,1 tỷ đô la. Việc Công ty dần thu hẹp được cán cân xuất nhập khẩu là một điều rất đáng khích lệ. Một nguyên nhân quan trọng mang lại kết quả đáng mừng đó là sự lớn mạnh trong việc phát triển thị trường xuất khẩu. II. Thực trạng về chiến lược Marketing xuất khẩu 1. Thực trạng các mục tiêu của Marketing xuất khẩu 1.1. Mục tiêu chính trị Do là một doanh nghiệp xuất nhập khẩu Nhà nước, Công ty không chỉ đơn thuần chủ trương giữ mối quan hệ kinh doanh giữa người bán và người mua mà Công ty còn phải giữ mối giao hảo tốt đẹp giữa chính phủ 2 nước. Tránh những mâu thuẫn kinh tế gây ảnh hưởng đến nền chính trị, mọi công việc đều cần thiết giải quyết trên bàn giấy. Việt Nam đối với các nước trong khu vực và trên thế giới có nhiều liên hệ trong lịch sử, ngày nay những liên hệ đó mang tính chất gấn bó Việt Nam với các nước khác, đặc biệt là đối với một số nước anh em như Lào, Trung Quốc và một số nước XHCN khác trên thế giới. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đề ra định hướng đối với việc phát triển kinh tế, chính trị đó là “ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” 1.2.. Mục tiêu kinh tế Mục tiêu chính yếu đối với các doanh nghiệp kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận. Công ty VILEXIM sau hơn một thập kỷ tồn tại và phát triển, từ những bước đầu khó khăn sau khi đất nước mở cửa nền kinh tế đã dần phát triển, đảm bảo mang lại lợi nhuận qua từng năm hoạt động. Tuy nhiên do phải chịu một số ảnh hưởng chung của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới như sự kiện 11/9/2001tại Mỹ, ảnh hưởng dịch SAR 2003 tại Châu á nên trong những năm gần đây lợi nhuận của Công ty có phần giảm sút mạnh, hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu không bằng trước. Trước tình thế như vậy Ban lãnh đạo Công ty đã phải đối phó bằng cách giảm bớt một số hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đối với một số nước, một số mặt hàng trên thế giới, Công ty bảo toàn nguồn vốn kinh doanh của mình để có đủ tiềm lực phát triển khi các cuộc khủng hoảng qua đi. 2. Chiến lược Marketing hỗn hợp trong kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty VILEXIM 2.1. Chiến lược quốc tế về sản phẩm Khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài Công ty cần xác định rõ sản phẩm xuất khẩu là bất cứ thứ gì có thể thoả mãn mong muốn và nhu cầu của khách hàng nước ngoài. Nội dung cơ bản trong chính sách sản phẩm của Công ty đưa ra là xoay quanh việc duy trì, cải tiến hoặc loại bỏ chủng loại sản phẩm hiện thời và phát triển sản phẩm mới. Trong chiến lược sản phẩm Công ty VILEXIM đã đưa ra 2 quan điểm làm phương hướng cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu dó là: Quan điểm thích nghi hoá sản phẩm Vì khách hàng ở các nước có nhu cầu và mong muốn khác nhau nên hoạt động của Công ty sẽ có hiệu quả hơn nếu như có sự định hướng theo các nhu cầu chuyên biệt của từng thị trường và cũng từ sự thích nghi hoá sản phẩm này Công ty có thể đưa ra những sản phẩm phù hợp với từng thị trường riêng biệt đó. Quan điểm tiêu chuẩn hóa sản phẩm Để tiến tới việc toàn cầu hoá hoạt động của mình Công ty xem xét các tiêu chuẩn chung cho sản phẩm của mình nhưng quan điểm này hiện tại vẫn mang phần lớn là tính chất tham khảo còn định hướng chủ yếu của Công ty vẫn theo quan điểm thích nghi hoá sản phẩm. 2.2. Chiến lược quốc tế về giá Xây dựng chiến lược giá quốc tế là một trong những việc quan trọng nhất khi Công ty muốn thâm nhập vào thị trường nước ngoài. Chính sách giá ảnh hưởng trực tiếp đến việc gia tăng số lượng hàng xuất khẩu và doanh thu mà Công ty có thể thu được. Việc xác định giá trong Marketing của Công ty bao gồm những nội dung sau: - Xác định mức giá cơ sở để đảm bảo quá trình tái sản xuất kinh doanh. - Xác định các điều kiện cụ thể để phân hoá giá bán trên các thị trường vào các thời điểm khác nhau và theo các đối tượng khác nhau. - Xác định mối quan hệ về giá cả giữa các sản phẩm cá biệt trong một chủng loại sản phẩm. - Xác định chính sách giá trong điều kiện địa lý khác nhau, đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán khác nhau. Từ các nội dung trên, Công ty VILEXIM đã xây dựng cho mình một chính sách giá thích hợp cho các sản phẩm trên từng thị trường chuyên biệt. Một số chiến lược định giá chủ yếu mà Công ty thường áp dụng:- - Giá ưu đãi: Xác định mức giá đủ thấp để có thể giữ được khách hàng truyền thống của Công ty, thậm chí có thể thấp hơn nếu đó là khách hàng mới, có khả năng hợp tác lâu dài với Công ty hoặc khách hàng ở thị trường mà Công ty có khả năng xâm nhập. - Giá bành trướng: Định mức giá thật thấp để tăng thêm tỷ lệ khách hàng tiềm năng, chiến lược này được áp dụng đối với những sản phẩm có độ co giãn của cầu khá cao. 2.3. Chiến lược phân phối quốc tế (thâm nhập thị trường quốc tế) Chủ trương của Nhà nước ta về công tác thị trường xuất khẩu là đa phương hoá, đa dạng hoá, chú trọng đến các thị trường trọng điểm, truyền thống. Công ty VILEXIM có kinh nghiệm xuất nhập khẩu gần 40 năm, đặc điểm chủ yếu đối với thị trường xuất khẩu của Công ty là có phần lớn các thị trường truyền thống, song do hạn chế về nguồn vốn tài chính nên Công ty đã lựa chọn cho mình một số các phương thức phân phối sau: - Xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu uỷ thác song còn hạn chế. - Xuất khẩu thông qua các tổ chức nhập khẩu nước ngoài. Voí phương thức xuất khẩu này, Công ty có thể hạn chế một số các khoản chi phí và rủi ro gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của Công ty. - Phương thức xâm nhập đáng tin cậy, có cơ sở lý luận và thực tiễn đó là dựa trên việc quản trị chiến lược kinh doanh, hoạch định các mục tiêu, xây dựng các chiến lược Marketing có khả năng thực thi cao. 2.4. Chiến lược khuếch trương quốc tế Công ty VILEXIM mong muốn mở rộng thị trường kinh doanh quốc tế của mình bằng việc thực hiện chiến lược giao tiếp khuếch trương đồng nhất tuy nhiên Công ty đã gặp phải một số trở ngại mang tính tương đối vì có sự khác biệt văn hoá giữa các thị trường trên thế giới. Ban lãnh đạo của Công ty đã quyết định kết hợp sử dụng cả 4 hoạt động quảng cáo, xúc tiến bán, các hoạt động yểm trợ và quan hệ với khách hàng. Nhưng do còn nhiều hạn chế về vốn và kinh ngiệm của đội ngũ nhân sự nên Công ty chỉ đạt được hiệu quả mờ nhạt trong chiến lược này. Iii, đánh giá chung của việc thực hiện chiến lược 1. Những thành công trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu nông sản của Công ty VILEXIM Trong những năm qua, mặc dù kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản có những biến động thất thường song Công ty cũng đạt được một số thành tựu đáng khích lệ như: - Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có nhiều chuyển biến tích cực,Công ty không những giữ vững được những mặt hàng truyền thống mà còn tiến hành khai thác thêm một số mặt hàng mới có triển vọng xuất khẩu. Bên cạnh đó Công ty còn chú trọng phát triển chất lượng của từng mặt hàng theo tiêu chuẩn quốc tế để có thể đáp ứng tôt nhu cầu của thị trường. - Công tác tìm kiếm thị trường xuất khẩu đã được quan tâm hơn, mở ra nhiều triển vọng kinh doanh đối với một số thị trường lớn như EU, Nam Mỹ, Đông á... Công ty cũng đã tạo dựng được mối quan hệ tốt đối với khách hàng và đảm bảo khi có hợp đồng xuất khẩu thì nguồn hàng cũng đáp ứng kịp thời, đúng mẫu mã, chất lượng và giá cả hợp lý. - Trong công tác quản lý, Công ty đã thiết lập một cơ sở để quản lý hoạt động xuất khẩu linh hoạt cho phép các phòng nghiệp vụ tự hạch toán nội bộ, tự tìm kiếm thị trường mới hoặc có sự giúp đỡ của phòng kế hoạch thị trường. Ban lãnh đạo Công ty quản lý thông qua phòng kế toán tài chính trên cơ sở giao khoán chỉ tiêu kim ngạch xuất nhập khẩu và cấp phát vốn trên cơ sở các hợp đồng đã ký và có hiệu quả. Sự khai thông trong công tác quản lý này đã thực sự kích thích CBCNV trong Công ty phát huy hết khả năng, thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn. Bên cạnh đó Công ty còn áp dụng hình thức trả lương linh hoạt theo đúng chính sách tiền lương hiện hành ngoài ra còn kết hợp khen thưởng các cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác. Đây chính là động lực khuyến khích đội ngũ CBCNV hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty. 2. Hạn chế - Hiệu quả sử dụng vốn vẫn chưa thật cao dù sức sản xuất kinh doanh của vốn ngày càng cao, vốn đầu tư ngày càng lớn. Các khoản nợ phải trả, phải thu còn lớn. - Hiệu quả kinh doanh còn thấp, chưa ổn định. Hiện nay Công ty đang gặp phải nhiều khó khăn trong công tác thị trường, các mặt hàng xuất khẩu của Công ty gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các Công ty xuất khẩu cả trong lẫn ngoài nước. Sức tiêu thụ giảm, giá cả xuống thấp khiến hiệu quả kinh doanh của Công ty không cao. - Trong quản lý và kinh doanh có lúc còn gặp phải sơ hở, sai sót trong thủ tục chứng từ. Một số trường hợp ký kết hợp đồng, lập hồ sơ bảo lãnh còn chưa nghiên cứu kỹ các pháp lệnh kinh tế, các văn bản pháp quy do Nhà nước ban hành gây tổn thất kinh tế cho Công ty. - Chưa phát huy hết khả năng trong công tác hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm do đội ngũ CBCNV của Công ty chưa thực sự có kinh nghiệm. 3. Nguyên nhân 3.1. Nguyên nhân khách quan Kim ngạch xuất khẩu của Công ty trong những năm gần đây biến động không đều phần lớn là do nguyên nhân khách quan. Các cuộc khủng hoảng tài chính, chiến tranh, biến cố ngày 11/9 tại Mỹ, dịch SAR đã gây ảnh hưởng lớn và mạnh mẽ đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và Công ty nói riêng. Mới thoát khỏi sự ảnh hưởng do thiếu thị trường do thị trường truyền thống bị tan rã thì theo quyết định số 55/1998QĐ_TTg của Thủ tướng Chính phủ cho phép các doanh nghiệp Việt Nam được tham gia trực tiếp vào hoạt động xuất khẩu mà không phải đáp ứng bất kỳ điều kiện gì ngoài việc phải đăng ký mã số hàng hoá của mình tại cơ quan Hải Quan, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc kinh doanh xuất nhập khẩu. Song cũng từ đó Công ty đã gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt giữa các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy nước ta đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh nhưng do thiếu sự đồng bộ của các yếu tố sản xuất, cơ sở hạ tầng yếu kém dẫn đến khả năng khai thác và phát huy các lợi thế kém hiệu quả. So vào đó công nghệ chế biến nông sản nhìn chung còn thấp so với yêu cầu của một số thị trường. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào yếu tố điều kiện tự nhiên. 3.2. Nguyên nhân chủ quan từ phía Công ty Tuy việc tạo nguồn hàng ổn định song yêu cầu đáp ứng về chất lượng chưa thật đảm bảo. Công tác giám sát kiểm tra chất lượng còn mang tính chất chủ quan. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty chưa thực sự hoàn thiện. Đặc biệt đối với công tác Marketing thương mại chưa được chú ý. Công tác thanh toán công nợ trong hoạt động kinh doanh ít hiệu quả. CBCNV tuy có trình độ nhưng còn phải thực hiện quá nhiều công việc được giao. Chương III. Những giảI pháp để hoàn thiện chiến lược marketing xuất khẩu nông sản ở Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu việt - lào i. Phương hướng phát triển thương mại 1. phương hướng phát triển thương mại từ năm 2001 đến năm 2010 Dự kiến mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001- 2010) là năm 2010 tăng gấp đôi GDP so với năm 2000; tỷ trọng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ trong GDP là 39 - 40%; 16 - 17%; 42 - 43% và 50 % lao động làm nông nghiệp, 50% làm công nghiệp và dịch vụ. Hoạt động thương mại trong 10 năm tới cần phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu chung nói trên với nội dung cơ bản là: nỗ lực gia tăng tốc độ chu chuyển hàng hoá và hoạt động dịch vụ trong nước cũng như xuất khẩu, nhập khẩu, bảo đảm nhu cầu sản xuất trong nước, chuyển dịch cơ cấu hàng hoá trao đổi trên thị trường nội địa, quốc tế theo hướng gia tăng sản phẩm chế biến, có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy hoạt động dịch vụ, đa dạng hoá thị trường và phương thức kinh doanh theo hướng văn minh hiện đại, thực hiện sự nghiệp đẩy mạnh CNH - HĐH và hoàn thiện cơ chế thương mại phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN vào quá trình hội nhập. Từ sự phân tích thực trạng 10 năm trước cũng như dự báo tình hình trong nước và trên thế giới trong 10 năm tới, có thể nói, trước mắt có 3 khâu đột phá là: - Kích cầu trong nước để từ đó gia tăng sức mua, tiêu thụ sản phẩm. - Đối với cơ cấu đầu tư và sản xuất, đặt mối quan tâm hàng đầu vào khâu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, từ đó nâng cao sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường. Mở rộng thị trường bên ngoài. Về chỉ tiêu cụ thể, trên cơ sở tăng gấp đôi GDP vào năm 2010, giá trị sản lượng nông nghiệp tăng bình quân hằng năm khoảng 3%, chiếm tỷ trọng 16 - 17% GDP giá trị công nghiệp tăng bình quân hàng năm 7,5 - 8% và chiếm 42 - 43% GDP. 2. phương hướng phát triển của Công ty Chủ trương phát triển của Công ty trong thời gian tới là tập trung phần lớn nguồn lực vào các thị trường xuất khẩu truyền thống như: thị trường Đông á, Đông Nam á và một số bạn hàng tại Châu Âu. Bên cạnh đó, Ban lãnh đạo Công ty cũng mong muốn xâm nhập vào một số thị trường Châu Mỹ vì đây là một thị trường hoàn toàn mới đối với Công ty. Theo đánh giá của ban lãnh đạo Công ty, thị trường Châu Mỹ là một thị trường đầy tiềm năng, nhất là khu vực Trung Mỹ, với mức thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 22.500 USD/năm đây được coi là một thiên đường tiêu dùng đối với các nhà sản xuất. Tuy nhiên bên cạnh đó, còn đầy rẫy những khó khăn đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng nông sản thực phẩm như: - Sự bảo trợ của chính phủ các nước này đối với nông dân của họ đang ở mức quá cao khiến cho các nước nghèo coi nông nghiệp là nền tảng cho sự phát triển kinh tế gặp quá nhiều khó khăn trong việc định giá các sản phẩm. (Khu vực kinh tế thị trường tự do như Mỹ và Châu Âu, các nước giầu hàng năm trợ cấp 300 tỉ USD/năm cho nông dân). - Hàng rào thuế xuất nhập khẩu ở các nước giầu cao gấp 4 lần so với các nước nghèo. - Hoạt động xuất khẩu sẽ gặp nhiều khó khăn vì khoảng cách địa lý giữa hai Châu. Chính vì vậy trước mắt Ban lãnh đạo Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu Việt - Lào cho rằng quan trọng nhất trong thời gian tới đó là có thể giữ vững và mở rộng các thị trường truyền thống. II. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chiến lược Marketing xuất khẩu 1. GiâI pháp định hướng mục tiêu của chiến lược xuất khẩu Môi trường vĩ mô Theo nhận định của một số chuyên gia kinh tế trên thế giới, Việt Nam đang trong thời kỳ tăng trưởng bền vững do hoạt động xuất khẩu phát triển mạnh đặc biệt là xuất khẩu hàng nông sản. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 28% trong 8 tháng đầu năm và riêng xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Cũng trong 8 tháng đàu năm 2003, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là 7% đứng thứ hai sau Trung Quốc 7,8%. - Đối ngoại: Trong quá trình hơn 10 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta không ngừng chú trọng việc thúc đẩy phát triển quan hệ quốc tế song song với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Việc ký kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, hợp tác phát triển kinh tế chính trị với một số quốc gia thuộc khối EU, chuẩn bị gia nhập tổ chức thương mại thế giới, hội nhập AFTA xóa bỏ hàng rào thuế quan đã thật sự là động lực mạnh mẽ để Việt Nam trong kỷ nguyên tới có thể gia nhập hàng ngũ các quốc gia phát triển. - Đối nội: + Thành lập nhiều chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, sử dụng chính sách lãi xuất ưu đãi đối với các hộ gia đình. + Khuyến khích phát triển các vùng kinh tế chuyên canh. + Phát triển kinh tế mọi thành phần, đặc biệt phát triển HTX. + Cải tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể dễ dàng xâm nhập thị trường nước ngoài. + ... 1.2.. Môi trường vi mô Hiện nay, theo thống kê nước ta có hơn 1000 doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong đó có khoảng 400 doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng nông sản thực phẩm. Điều này cho thấy sức cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu nông sản diễn rất mạnh mẽ, các doanh nghiệp xuất khẩu rất khó khăn trong việc giữ vững thị trường truyền thống của mình nếu không đảm bảo được nguồn hàng của mình đảm bảo chất lượng, mẫu mã, chủng loại phù hợp với nhu cầu của thị trường nước ngoài. Như vậy có thể thấy rằng sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp chỉ có thể tự khẳng định qua những nỗ lực của chính bản thân doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh gay gắt hiện nay. 1.3. Định hướng chiến lược kinh doanh xuất khẩu Điều quan trọng nhất đối với Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu Việt - Lào là việc giữ vững và phát triển chiến lược thị trường. Đứng trước tình trạng cạnh tranh khốc liệt, sức tiêu thụ của thị trường có hạn, thị trường chỉ cho phép tồn tại những sản phẩm, hàng hoá nào phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Điều đó khiến Công ty phải luôn bám sát và nghiên cứu kỹ lưỡng, chi tiét nhu cầu của thị trườngvà ngay cả khi sản phẩm của doanh nghiệp đã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng nhưng do nhu cầu thị trường luôn luôn thay đổi nên doanh nghiệp phải cải tiến sản phẩm để người tiêu dùng luôn luôn lựa chọn nó. Đồng thời vấn đề cung ứng sản phẩm đến với người tiêu dùng đóng vai trò rất quan trọng, quyết định đến sự thành công hay thất bại của Công ty. Trên thị trường có rất nhiều nhà cung ứng với những năng lực khác nhau, Công ty phải tìm hiểu kỹ các nhà cung ứng này để có thể lựa chọn được kênh phân phối phù hợp với Công ty (về chi phí, khả năng kiểm soát...) Phát triển thị trường là chiến lược kinh doanh đúng đắn nhất cần được nghiên cứu kỹ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQT1474.doc
Tài liệu liên quan