Tiểu luận Các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam

MỤC LỤC Trang

1. Phụ lục: 1

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn: . 3

• Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: . 3

• Công ty trách nhiệm hữu hai thanh viên trở lên: . 6

3. Doanh nghiệp tư nhân: . 8

4. Công ty hợp danh: . 10

5. Công ty cổ phần: 13

6. Nhóm công ty: 15

• Tập đoàn kinh tế: 15

• Công ty mẹ-công ty con: . 17

 

 

 

doc18 trang | Chia sẻ: leddyking34 | Ngày: 03/07/2013 | Lượt xem: 8447 | Lượt tải: 75download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u tài sản giữa các pháp nhân này phải minh bạch để nhà nước và xã hội kiểm soát được một cách công khai. I.2 Khái niệm công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên II.2.1 Khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của luật doanh nghiệp I.2.1.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp; c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Luật doanh nghiệp 2005. I.2.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. II.2.1.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn không được quyền phát hành cổ phần. Điều 45 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên như sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc và nếu có trên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.Quyền, nghĩa vụ, tiêu chuẩn, điều kiện và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định. Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty. Người đại diện theo pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam; trường hợp vắng mặt ở Việt Nam trên ba mươi ngày thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác theo quy định tại Điều lệ công ty để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty. I.2.2. Điều kiện thành lập Công ty TNHH 2 thành viên trở lên: Theo quy định tại Điều 38 Luật Doanh nghiệp các chủ thể tham gia thành lập Công ty TNHH 2 thành viên trơ lên có thể là một tổ chức hoặc là một cá nhâ, số lượng tối thiểu là hai và số lượng thành viên không vượt quá năm mươi (50). Ngoài ra các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập Công ty TNHH một thành viên phải đáp ứng được các điều kiện sau đây (Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005): I.2.2.1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. I.2.2.2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam: a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình. b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác. e) Người chưa thành niên người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự. f) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh. g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản. I.2.2.3. Tổ chức, cá nhân có quyền mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 điều này. I.2.2.4. Tổ chức, cá nhân sau đây không được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này: a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình. b) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. I.2.3. Ưu và nhược điểm I.2.3.1. Ưu điểm Công ty có thể thay đổi địa chỉ trụ sở giao dịch, đặt văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại các địa phương khác chứ không bó hẹp tại địa phương đặt trụ sở - địa phương cấp giấy Đăng ký kinh doanh. Có tư cách pháp nhân. Chịu trách nhiệm pháp lý hữu hạn và tối đa không vượt quá phần vốn góp.Phân chia rủi ro trong kinh doanh. Có nhiều thành viên góp vốn nên khả năng huy động vốn tốt hơn và quy mô kinh doanh cũng mở rộng hơn. Có nhiều thành viên nên trình độ quản lý tốt hơn I.2.3.2. Hạn chế Số lượng thành viên tối đa không vượt quá 50 người. Không được quyền phát hành cổ phần. Việc chuyển nhượng phần vốn góp phải tuân thủ một trình tự chặt chẽ theo quy định tại Điều 43, 44, 45 của Luật doanh nghiệp 2005. I.2.4. Quy định bất cập của pháp luật về cty TNHH: Theo quy định tại Điều 13 của NĐ 139/CP, muốn trở thành GĐ (TGĐ) của cty TNHH 2 TV trở lên thì cổ đông phải là cá nhân sở hữu ít nhất 5% số cổ phần phổ thông, hoặc người khác thì phải có trình độ chuyên môn hoặc kinh nghiệm thực tế trong QTKD hoặc trong ngành nghề KD chính của cty. Hơn nữa, Nghị định 139/CP lại cho phép trường hợp Điều lệ cty quy định tiêu chuẩn và điều kiện khác với tiêu chuẩn và điều kiện trên thì áp dụng tiêu chuẩn và điều kiện do Điều lệ cty quy định. Thứ nhất, việc quy định chức danh GĐ (TGĐ) trong mô hình cty TNHH 2 TV trở lên là cá nhân sở hữu ít nhất 5% số cổ phần phổ thông là mâu thuẫn với quy định tại Điều 57 Luật DN, quy định GĐ (TGĐ) của cty TNHH phải sở hữu từ 10% vốn điều lệ của cty trở lên. Theo luật DN 2005, Điều 60, khoản 2 quy định: “trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc tiếp nhận thêm thành viên phải được sự nhất trí của các thành viên”. I.2.5. NHẬN XÉT CHUNG: Tuy còn bất cập nhưng nhìn chung pháp luật về công ty TNHH 2 TV trở lên như hiện nay là khá đầy đủ và đảm bảo việc thực thi pháp luật trong việc thành lập, quản lý. Nhiều phần trong luật DN 2005 và các nghị định hướng dẫn đều có giao quyền cho công ty bằng câu: “Ngoại trừ điều lệ có quy định khác” hoặc ”và các quy định khác trong điều lệ công ty”. Điều này giao quyền khá rộng cho các công ty nhưng trong một số trường hợp lại tự vô hiệu haó toàn bộ các quy định trong luật như đã phân tích ở trên. II. DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN II.1. Khái niệm Theo Điều 141 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005, Doanh nghiệp tư nhân được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp cũng được quy định rõ ràng trong Điều 142 : Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ theo quy định của pháp luật. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp đơn giản nhất hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.  Loại hình doanh nghiệp này không được coi là một pháp nhân độc lập.  Nói cách khác, doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp được xem là một. Với quy mô nhỏ và tính chất kinh doanh sản xuất theo vụ việc, các Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có một số ưu điểm và nhược điểm sau : II.2. Ưu và nhược điểm II.2.1. Ưu điểm: - Hoàn toàn chủ động trong việc quyết định các vấn đề lien quan đến hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. - Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ Doanh nghiệp tư nhận tạo sự tin tưởng cho các đối tác, khách hang và giúp cho Doanh nghiệp ít chịu ràng buộc chặt chẽ như các loại hình doanh nghiệp khác. II.2.2. Nhược điểm : Do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ doanh nghiệp tư nhân cao, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cũng như của mình chứ không giới hạn bằng số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thường mắc phải 1 số nhược điểm sau: - Khâu xử lý thông tin nội bộ rất kém hệ thống thông tin về qui trình và đặc tính của sản phẩm không hoàn chỉnh cũng như trách nhiệm công việc không được phân công rõ ràng. làm cho giá thành sản phẩm cao và khiến khách hàng không hài lòng. - Thường không chú ý hoặc thiếu các kỹ năng cần thiết để phát triển các kế hoạch chiến lược. Dẫn đến các doanh nhân trong nước hoặc quá lạc quan về kế hoạch phát triển, hoặc đánh giá thấp các rủi ro và trở ngại liên quan. - Doanh nghiệp tư nhân trong nước thường chỉ sử dụng hệ thống tài chính kế toán cho mục đích báo cáo thuế mà chưa xem hệ thống trên là một công cụ rất hiệu quả, có thể giúp hiểu biết về cấu thành giá, phân tích tài chính hoặc cho việc kiểm soát nội bộ II.3. Tình hình chung Doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam Qua báo cáo được thực hiện bởi Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp và Đầu tư, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, nếu chỉ tính về số doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh, thì từ số lượng khoảng 31.000 doanh nghiệp vào năm 2000, con số này đã nhanh chóng tăng lên 15 lần trong 9 năm. So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác thì khu vực doanh nghiệp tư nhân có số lượng tăng ấn tượng nhất và tạo nên sự tăng trưởng chính về mặt số lượng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Quy mô vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân cũng tăng đáng kể. Tổng vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp tư nhân đã tăng 17 lần từ khoảng 38.700 tỷ đồng vào năm 2000 lên tới 657.000 tỷ vào năm 2008. Tính trung bình, vốn chủ sở hữu bình quân một doanh nghiệp dân doanh hiện nay đạt 5,2 tỷ đồng so với 1,2 tỷ đồng vào năm 2000. Đánh giá một cách toàn diện, việc tăng quy mô vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân đã đi kèm với mức tăng rất ấn tượng về doanh thu thuần (tăng gần 16 lần), lợi nhuận (tăng 27 lần), tổng tài sản (tăng 24 lần) trong giai đoạn 2000-2008. Doanh nghiệp tư nhân là khu vực tạo ra nhiều việc làm, và với việc tăng nhanh về số lượng, đây cũng là khu vực có tốc độ tạo ra việc làm lớn nhất so với các thành phần kinh tế khác. Thế nhưng, lợi nhuận trên tổng tài sản lại thấp hơn so với khu vực nhà nước và đầu tư nước ngoài. Nhận định này nằm trong báo cáo rà soát chỉ số và chính sách phát triển kinh tế tư nhân vừa được Tổ thi hành Luật Doanh nghiệp - Đầu tư cùng Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 13/10. Lợi nhuận trên tổng tài sản của khu vực tư nhân là 1,5%, trong khi của doanh nghiệp nhà nước là 5,4% và FDI là 10,6%. Tình trạng lợi nhuận thấp khiến doanh nghiệp tư nhân khó tích lũy nội bộ. Khi tỷ suất lợi nhuận thấp thì không thể phát triển, đó là vòng luẩn quẩn của doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân không bằng các doanh nghiệp Nhà nước” đó là nhìn nhận của cả người dân và cơ quan chức năng đã rào cản gây ra nhiều bất bình đẳng ở mọi lĩnh vực hoạt động như: mỗi khi có nhu cầu vay vốn, doanh nghiệp tư nhân phải thực hiện nhiều thủ tục phức tạp, ngay cả khi có thế chấp cũng chỉ được vay dưới 50% giá trị tài sản. Đại đa số cán bộ chủ chốt ở các cơ quan công quyền đều ngại gần doanh nghiệp tư nhân họ cho rằng những biểu hiện xấu trong kinh tế sản xuất, thực hiện các quy định pháp luật sai như gian lận thuế, làm hàng kém chất lượng thường được gán cho khu vực này, nhưng thực tế sai phạm ở các doanh nghiệp nhà nước không hề ít. Doanh nghiệp tư nhân phải chịu gánh nặng chi phí kinh doanh lớn nên dẫn tới lợi nhuận lại thấp. Các doanh nghiệp tư nhân phải chịu chi phí thuê mặt bằng lớn, còn doanh nghiệp nhà nước và FDI có thể sẽ được giao hoặc cho thuê với mức giá thấp hơn.. Nhiều ưu đãi hiện nay của Nhà nước dành cho doanh nghiệp tư nhân vẫn theo cơ chế xin - cho. Doanh nghiệp tư nhân cần được coi là trụ cột của nền kinh tế và do đó, cần có sự cân bằng về quan điểm khuyến khích đầu tư trong nước cũng như thu hút FDI. III. Công ty hợp danh. III.1. KHÁI NIỆM CÔNG TY HỢP DANH Là một hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người, công ty hợp danh bao giờ cũng được nhắc tới trước tiên trong các đạo luật hay các công trình nghiên cứu về công ty. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, công ty hợp danh bị gắn với một hình thức công ty khác là công ty hợp vốn đơn giản để cùng được gọi là “công ty hợp danh”. III.1.1. Công ty hợp danh : là doanh nghiệp, trong đó : Phải có ít nhất hai thành viên(có nghĩa là hai người chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn định đối với các khoản nợ của công ty),là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty” (Điều 130, khoản 1). III.1.2. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng lkí kinh doanh. III.1.3. Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào. III.2. HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN : ( Điều 135 ) Tất cả thành viên hợp danh lại thành Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh lên làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đóc hoặc Tổng Giám đốc công ty nếu điều lệ công ty không có quy định khác. Thành viên hợp danh có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viênđể thoả thuận và quyết định công việc kinh doanh của công ty. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. III.3. CƠ CẤU TỔ CHỨC Công ty hợp danh có Hội đồng thành viên gồm tất cả các thành viên hợp lại, Chủ tịch hội đồng thành viên và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc III.4. ĐIỀU HÀNH KINH DOANH CỦA CÔNG TY HỢP DANH ( Điều 137 ) III.4.1. Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện cọng việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ 3 khi người đó được biết về hạn chế đó. III.4.2. Trong điều hành công việc của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau nhiệm vụ các chức danh quản lí và kiểm soát công ty. Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh các ngành nghề kinh doanh đã đăng kí của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp nhận. III.4.3. Công ty có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng thành viên chỉ định thành viên được uỷ quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó. III.4.4. Chủ tịch hội đồng thành viên và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các nhiệm vụ sau đây : a) Quản lí và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh. b) Triệu tập và tổ chức họp hội đồng thành viên ký các quyết định hoặc nghị quyết của hội đồng thành viên. c) Phân công phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh , ký các quyết định về quy chế, nội quy và các công việc tổ chức nội bộ khác của công ty. d) Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và các tư liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật. đ) Đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước đại diện cho công ty với tư cách là tự đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác. III.5. Ưu và nhược điểm III.5.1 Ưu điểm Ưu điểm của công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau. III.5.2. Khuyết điểm Công ty Hợp Danh không đươc phép chia, tách công ty, chỉ được hợp nhất và sáp nhập. Vậy tại sao ? Công ty hợp danh kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người. Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh. Do vậy, khi chia, tách cty, "độ tin cậy" chắc chắn sẽ giảm và "giới hạn trách nhiệm" của các thành viên hợp danh cũng thay đổi. Như vậy, bản chất của công ty hợp danh cũng thay đổi. Khi đó, nó sẽ có bản chất của công ty TNHH hoặc doanh nghiệp tư nhân CTy hợp danh: chỉ áp dụng với một số ngành đặc trưng (Tư vấn pháp luật, bác sỹ...). Người đứng đầu CT (thường là Giám đốc) phải có chứng chỉ hành nghề tương ứng, chịu trách nhiệm với Pháp luật về lĩnh vực hoạt động của CT. Hình thức góp vốn thì tương tự như CTy TNHH >2 thành viên. Các thành viên khác chỉ chịu trách nhiệm về vốn, còn người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về hoạt động chuyên môn. Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao. Loại hình công ty hợp danh được quy định trong Luật doanh nghiệp năm 1999 và 2005 nhưng trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến. III.6. Một Số Thực Tiễn Đáng Quan Tâm : Công ty hợp danh theo luật Việt Nam là mô hình kém hấp dẫn nhà đầu tư. Điều đó thể hiện qua các con số thống kế trên thực tế về số lượng của các doanh nghiệp theo loại hình này. Theo thống kê doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội, cho đến ngày 20/11/2007, Hà Nội chỉ có 17 công ty hợp danh so với 33.327 công ty trách nhiệm hữu hạn, 21.061 công ty cổ phần, 2.921 doanh nghiệp tư nhân, 2.137 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên[26]. Như vậy, có thể thấy số lượng công ty hợp danh là quá ít ỏi so với số lượng các doanh nghiệp thuộc các loại hình khác. Trong một nỗ lực giải quyết tính kém hấp dẫn của mô hình công ty hợp danh, Dự thảo Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định thành viên hợp danh không phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty hợp danh.Tuy nhiên, cách xử lý này bị phản đối gay gắt, và ngày 20/11/2007, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân, vói quy định thành viên hợp danh vẫn phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Tại sao công ty hợp danh ở việt nam lại ít? Vì công ty hợp danh liên quan nhiều đến những người hợp danh phải có chứng chỉ gì đó. Ví dụ: Công ty hợp danh luật Gia Nguyễn do 2 người hợp danh thành lập nên công ty, 2 người này phải có chứng chỉ hành nghề luật sư. Còn công ty TNHH chỉ cần có vốn là thành lập được doanh nghiệp. III.7. KẾT LUẬN Lợi ích của quy định này nhìn chung là không cao, thậm chí còn hạn chế sự phát triển của loại hình công ty này. Không chỉ riêng các quy định về tư cách pháp nhân của công ty hợp danh mà nhiều quy định khác của Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng phản ánh một hiện trạng chung về sự phát triển của chế định công ty trong pháp luật Việt Nam, đó là hướng phát triển tương đối khác với hầu hết các nước trên thế giới. Ở nhiều nước, công ty có trước, sau đó mới có luật pháp điều chỉnh nó. Còn ở Việt Nam, nhiều loại hình doanh nghiệp chỉ được hình thành sau khi Luật Công ty năm 1990 và các văn bản tiếp sau nó ra đời. Cần tham khảo thêm pháp luật một số nước có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực này, để có quy định hợp lý hơn về công ty hợp danh, tạo điều kiện cho giới doanh nhân có thêm một mô hình doanh nghiệp để lựa chọn cho phù hợp với ý tưởng kinh doanh của mình; đồng thời, cũng là để phù hợp với xu thế chung của thế giới khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). IV. Công ty cổ phần IV.1. Khái niệm  Là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Bộ máy các công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch và hoạt động có hiệu quả. Công ty Cổ phần phải có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng Quản trị và Ban Điều hành. Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban Kiểm soát. Khái niệm công ty cổ phần được xem đồng nghĩa với công ty đại chúng bởi cấu trúc, mục tiêu và tính chất của nó. Quy định trong một số bộ luật, trong đó có Luật Việt Nam ghi rõ công ty cổ phần cần có tối thiểu 3 cổ đông, bất kể đó là pháp nhân hay thể nhân. Tuy nhiên, các quy định đối với một công ty niêm yết thường yêu cầu công ty phải có số cổ đông lớn hơn nhiều. Theo điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 (của Việt Nam), công ty cổ phần được định nghĩa như sau: IV.1.1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này. Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. IV.1.2. Các loại cổ phần Theo điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005 (của Việt Nam), các loại cổ phần bao gồm: Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông. Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi cổ tức; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định. Trong các loại cổ phần ưu đãi trên thì cổ phần ưu đãi biểu quyết chịu một số ràng buộc như: § chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. § Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Các cổ phần còn lại (ưu đãi cổ tức, ưu đãi hoàn lại và ưu đãi khác) thường tuân theo các quy tắc do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Ngoài ra, cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi; trong khi cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau. IV.2. Ưu và nhược điểm IV.2.1. Ưu điểm § Nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty; § Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần; § Nhà đầu tư có khả năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần; § Việc hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu. IV.2.2. Nhược điểm § Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui định của luật pháp; § Chi phí cho việc thành lập doanh nghiệp khá tốn kém; § Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải công khai và báo cáo với các cổ đông; § Khả năng thay đổi phạm vi lĩnh vực kinh doanh cũng như trong hoạt động kinh doanh không linh hoạt do phải tuân thủ theo những qui định trong Điều lệ của công ty, ví dụ có trường hợp phải do Đại hội đồng Cổ đông của Công ty Cổ phần quyết định. IV.3. Bất cập về cơ chế Các quy định về công ty cổ phần cho thấy nhiều sự lúng túng của nhà làm luật. Trước hết xin nói về điều 80, có hai vấn đề: - Khoản 1: cổ đông phổ thông phải “thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Ở đây có sự nhầm lẫn. Sự thật chỉ riêng các cổ đông sáng lập là phải thanh toán đủ số cổ phần phổ thông đăng ký mua trong thời hạn trên. Đối với các cổ đông khác, trên nguyên tắc họ phải thanh toán đủ một lần khi đăng ký mua, nhưng không nhất thiết phải trong thời hạn 90 ngày như nói trên, bởi vì công ty có quyền rao bán cổ phần trong thời hạn ba năm sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (điều 84). - Khoản 5: “cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty… thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trư

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTiểu luận các loại hình doanh nghiệp tại VN.doc
Tài liệu liên quan