Hỏi cung trong tố tụng hình sự

MỤC LỤC

 

trang

 

 

ĐẶT VẤN ĐỀ.1

I. Khái niệm và đặc điểm của hỏi cung trong tố tụng hình sự.1

1. Khái niệm.1

2. Đặc điểm của hỏi cung.2

II. Những nguyên tắc cần tuân thủ trong việc hỏi cung.3

1. Hoạt động hỏi cung phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách

quan, toàn diện và đầy đủ.3

2. Thận trọng, coi trọng chứng cứ, không dễ tin lời cung, lời khai của bị

can phải được thẩm tra, xác minh đảm bảo tính chính xác, rõ ràng.5

III. Trình tự và thủ tục tiến hành hỏi cung.6

1. Giai đoạn chuẩn bị hỏi cung.6

2. Giai đoạn tiến hành hỏi cung.9

3. Giai đoạn kết thúc hỏi cung.10

IV. Những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn và hướng khắc phục,

nâng cao hiệu quả công tác hỏi cung.12

1. Những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn của hoạt động hỏi cung.12

2. Nguyên nhân của những vướng mắc và tồn tại trong hoạt động hỏi cung.16

3. Hướng khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác hỏi cung.16

KẾT LUẬN.17

 

doc19 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 09/07/2013 | Lượt xem: 7958 | Lượt tải: 46download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hỏi cung trong tố tụng hình sự, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tùy theo mức độ nặng nhẹ mà bị xử lý theo Điều 299 BLHS năm 1999 + Dụ cung: là lối hỏi cung bằng lời lẽ hoặc hành động nhẹ nhàng, khôn khéo để dụ dỗ, lừa phỉnh, hứa hẹn vô nguyên tắc để mua chuộc bị can khai theo ý chủ quan của Cán bộ hỏi cung. + Dùng nhục hình: làm bị can đau đớn về thể xác bằng cách đánh đập, tra tấn bị can, không cho ăn uống, bắt bị can đứng phơi nắng, cùm xích chân tay bị can... hoặc tác động vào tâm lí làm cho bị can không thể chịu nổi mà phải khai nhận hoặc khai báo theo ý chủ quan của Cán bộ hỏi cung. Người có thẩm quyền mà dùng nhục hình trong hỏi cung thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 298 BLHS. 2. Thận trọng, coi trọng chứng cứ, không dễ tin lời cung, lời khai của bị can phải được thẩm tra, xác minh đảm bảo tính chính xác, rõ ràng. Nội dung của nguyên tắc này là phải làm thế nào để những hành vi phạm tội hoặc liên quan đến tội phạm của bị can phải được phản ánh đầy đủ, chính xác trong lời cung của họ, đồng thời phải phân tích đánh giá nội dung lời khai một cách khách quan, có cơ sở để chứng minh lời khai của bị can là đúng. Lời khai của bị can giúp xác định được một phần hoặc toàn bộ sự thật khách quan của vụ án, âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của tội phạm, cách thức tổ chức đồng phạm của tội phạm, mọi lời khai của bị can phải được kiểm tra xác minh kĩ lưỡng. Theo khoản 2 Điều 72 Bộ luật TTHS thì lời nhận tội của bị can chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Điều tra viên phải có trách nhiệm kiểm tra, thu thập, củng cố chứng cứ để đấu tranh với bị can, lời khai của bị can chỉ được coi là chứng cứ khi nó phù hợp với các căn cứ khác đã thu thập được, Điều tra viên phải xem xét, đánh giá kỹ lưỡng có so sánh, không được xem xét phiến diện, như vậy sẽ rơi vào tình trạng nhận thức một chiều. Trong nhiều vụ án, bị can thường khai đổ vấy cho người khác do vậy dễ bị làm oan người vô tội mà bỏ lọt tội phạm. Nguyên tắc này yêu cầu Điều tra viên phải có những phương pháp khoa học có nội dung, yêu cầu, kế hoạch thẩm tra, xác minh cụ thể, có sự phối hợp giữa các đơn vị các lực lượng nghiệp vụ, tuyệt đối không định kiến, không được có thái độ làm việc đại khái, vô trách nhiệm trong việc thẩm tra lời khai của bị can. Điều tra viên có thể xác minh lời khai của bị can bằng nhiều cách, thông thường sự đánh giá sơ bộ về lời khai căn cứ vào trình độ hiểu biết sẵn có của cán bộ hỏi cung, quan trọng nhất là kiến thức về tội phạm. Kết hợp các biện pháp và chiến thuật hỏi cung, tác động tâm lí là một biện pháp rất quan trọng để thuyết phục bị can thành khẩn khai báo, có thể dùng các phương pháp thuyết phục, ám thị gián tiếp, tác động tình cảm... Điều tra viên khi sử dụng các biện pháp này cần phải có kiến thức vững vàng về các vấn đề đó, tránh rơi vào tình trạng dụ cung, mớm cung. Trên đây là những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động hỏi cung bị can, những chủ thể có thẩm quyền, đặc biệt là Điều tra viên phải nắm vững các nguyên tắc này và vận dụng sáng tạo chúng để có được hiệu quả cao nhất trong quá trình hỏi cung. III. Trình tự và thủ tục tiến hành hỏi cung. Trình tự và thủ tục tiến hành hỏi cung bị can được quy định từ Điều 129 đến Điều 132 Bộ luật TTHS. Có thể phân quá trình hỏi cung bị can thành ba giai đoạn: - Chuẩn bị hỏi cung - Tiến hành hỏi cung - Kết thúc hỏi cung 1. Giai đoạn chuẩn bị hỏi cung. Trong giai đoạn này Điều tra viên tiến hành chuẩn bị những điều kiện cần thiết phục vụ cho hoạt động hỏi cung được diễn ra thuận lợi. Việc chuẩn bị chu đáo là điều kiện cho Điều tra viên chủ động, linh hoạt sáng tạo lựa chọn và áp dụng những chiến thuật hỏi cung cho phù hợp với từng tình huống cụ thể để thu thập lời khai của bị can một cách đầy đủ, chính xác và thuận lợi, không bị rời vào thế bị động, lúng túng trước những đối tượng hỏi cung và diễn biến phức tạp của quá trình hỏi cung. a, Nghiên cứu hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan. Hồ sơ vụ án và các tài liệu khác có liên quan bao gồm: - Những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được từ những biện pháp điều tra như: biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét, biên bản lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, kết quả giám định. - Những tài liệu khác có liên quan: trích lục tiền án, tiền sự, hồ sơ, tài liệu về những vụ án do bị can đã gây ra trước đó, những tài liệu thu được từ những biện pháp trinh sát, phản ánh mối quan hệ mang tính chất tội phạm của bị can những biểu hiện nghi vấn của bị can trước, trong và sau khi xảy ra vụ án - Những tài liệu, chứng cứ thu thập được về những vụ án chưa được điều tra, khám phá mà Điều tra viên có cơ sở xác định bị can có liên quan. Để làm rõ quá trình nghiên cứu, Điều tra viên cần tổng hợp, phân loại tài liệu, căn cứ theo ý nghĩa của từng lọai tài liệu, chứng cứ đối với việc hỏi cung, đồng thời cần đối chiếu, so sánh, tìm ra những mâu thuẫn nếu có. Những tài liệu trên giúp cho Điều tra viên nắm được tất cả nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can và những đồng phạm khác ( nếu có) giúp cho việc xác định chính xác những vấn đề cần làm rõ trong khi hỏi cung, lựa chọn những tài liệu, căn cứ có thể và cần phải được sử dụng trong quá trình hỏi cung bị can. b. Nghiên cứu nhân thân bị can. Là việc nghiên cứu những đặc điểm riêng về mặt xã hội hoặc có ý nghĩa về mặt xã hội của bị can. Những đặc điểm nhân thân đó có thể là: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, có án tích (tái phạm, tái phạm nguy hiểm...), trình độ văn hóa, hệ thống giá trị, thái độ... Những tài liệu về nhân thân, Điều tra viên có thể thu thập và nghiên cứu qua hồ sơ cán bộ, trích lục tiền án, tiền sự... của bị can c. Lập kế hoạch hỏi cung. Nội dung của việc lập kế hoạch hỏi cung bao gồm: - Xác định vấn đề cần làm rõ trong quá trình hỏi cung, căn cứ vào Điều 63 Bộ luật TTHS quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự thì những vấn đề đó bao gồm các tình tiết mà bị can biết liên quan đến vụ án, có thể là các tình tiết xác định các yếu tố cấu thành tội phạm, tình tiết về nhân thân người phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị can, tình tiết xác định tính chất, mức độ của thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm và những tin tức, tài liệu khác có ý nghĩa trong việc điều tra và phòng ngừa tội phạm. - Dự kiến câu hỏi được đưa ra để bị can trả lời. Trên cơ sở nhiệm vụ của hoạt động điều tra, những vấn đề cần làm rõ trong quá trình hỏi cung và những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được về vụ án và hành vi phạm tội của bị can trong bản kế hoạch hỏi cung, cần dự kiến câu hỏi và trình tự đưa ra để bị can trả lời.có thể dự kiến trước những câu trả lời của bị can để Điều tra viên chủ động trong quá trình hỏi cung. - Dự kiến chiến thuật hỏi cung. Trên cơ sở những vần đề cần làm rõ trong việc hỏi cung, những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đặc điểm nhân thân của bị can, thái độ khai báo của bị can, trong bản kế hoạch hỏi cung cần dự kiến chiến thuật hỏi cung trong từng tình huống có thể xảy ra như: bị can thành khẩn khai báo, bị can từ chối khai báo, khai gian... tùy vào từng trường hợp trong bản kế hoạch hỏi cung cần phải dự kiến những nội dung và phương pháp thuyết phục bị can, những thủ thuật sử dụng chứng cứ, sử dụng mâu thuẫn để đấu tranh với thái độ ngoan cố không chịu khai báo của bị can và những biện pháp hỗ trợ khác cho việc hỏi cung như xây dựng đặc tính trại giam và tiến hành những biện pháp trinh sát khác, đặc biệt Điều tra viên cần dự tính thời điểm nào cần phải sử dụng tài liệu, chững cứ nào, chiến thuật hỏi cung như thế nào cho hợp lí và đạt được hiệu quả. - Dự kiến thời gian và địa điểm tiến hành hỏi cung: + Địa điểm: khoản 1 Điều 131 Bộ luật TTHS quy định: “...có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó.” Lựa chọn địa điểm hỏi cung tại trụ sở cơ quan Điều tra hoặc tại nơi ở của bị can, cũng có thể tại trại giam hoặc bệnh viện là tùy thuộc vào tình huống cụ thể. Tuy nhiên, Điều tra viên cần cố gắng lựa chọn địa điểm thuận lợi cho việc hỏi cung nhưng không để cho bị can chạy trốn, hành hung Cán bộ hỏi cung. Địa điểm hỏi cung phải nghiêm trang, có đủ điều kiện để thiết lâp sự giao tiếp tâm lý giữa Điều tra viên và bị can, tập trung sự chú ý của bị can vào những vấn đề cần phải làm rõ, đảm bảo giữ bí mật cho hoạt động điều tra... + Thời gian: tại khoản 2 Điều 131 quy định: “không hỏi cung vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.”. tiến hành hỏi cung bị can. Không được hỏi cung bị can vào ban đêm tức là từ 22h hôm trước đến 6h sáng ngày hôm sau. Ngoài ra, Điều tra viên không nên hỏi cung vào lúc bị can đang căng thẳng có xúc động mạnh. Sau khi chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho việc hỏi cung, Điều tra viên phải triệu tập bị can đến để hỏi cung. Điều 129 Bộ luật TTHS quy định cụ thể vấn đề này. Giấy triệu tập bị can được sử dụng để yêu cầu bị can đến Cơ quan điều tra để hỏi cung hoặc tham gia vào hoạt động điều tra khác. Nội dung của giấy triệu tập phải ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can, ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng. Giấy triệu tập bị can tại ngoại được gửi cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc để giao cho bị can. Cơ quan, tổ chức nhận được giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can và chuyển phần giấy triệu tập có chữ ký nhận của bị can cho cơ quan đã triệu tập bị can. Khi nhận giấy triệu tập bị can phải ký nhận, có ghi rõ ngày, giờ nhận, nếu bị can không ký nhận phải lập biên bản về việc đó và gửi cho Cơ quan điều tra. Nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đã thành niên trong gia đình. Bị can đang bị tạm giam được triệu tập thông qua Ban giám thị trại tạm giam. 2. Giai đoạn tiến hành hỏi cung. - Khi đã đến buồng hỏi cung, Điều tra viên tiến hành việc nhận dạng, kiểm tra căn cước của bị can nếu xét thấy cần thiết. Sau đó Điều tra viên tự giới thiệu về mình và tuyên bố cho bị can mục đích của việc hỏi cung. Điều 131 khoản 1 quy định: “trước khi hỏi cung, Điều tra viên phải đọc quyết định khởi tố bị can và giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này. Việc này phải được ghi vào biên bản.” - Tiến hành hỏi cung: Điều tra viên có thể lần lượt hỏi bị can những câu hỏi đã được vạch ra trong kế hoạch hỏi cung hoặc cũng có thể yêu cầu bị can viết tự khai rồi sau đó mới theo kế hoạch hỏi cung. Khi tiến hành hỏi cung, nếu có đủ căn cứ để xác nhận bị can có thái độ mong muốn khai báo sự thật hoặc trên thực tế đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình thì Điều tra viên có thể nêu ra các câu hỏi yêu cầu bị can viết tự khai. Trong quá trình bị can viết tự khai không được đưa ra câu hỏi trừ trường hợp Điều tra viên thấy bị can khai lan man về những tình tiết không có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra, khi đó Điều tra viên sẽ đề nghị bị can khai vào những tình tiết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra. Điều tra viên cần ghi lại những gì cần phải chú ý với lời khai của bị can và những câu hỏi đặt ra cho bị can trả lời sau này. -“Nếu vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can tự viết lời khai của mình.”( khoản 1 Điều 131 Bộ luật TTHS). Quy định này nhằm tránh sự thông cung giữa các bị can để khai báo sai sự thật. Vì vậy điều tra viên phải sắp xếp thời gian triệu tập bị can để hỏi cung riêng, nếu vụ án do nhiều Điều tra viên tiến hành và cần hỏi nhiều bị can cùng một thời điểm thì phải bố trí các địa điểm hỏi cung riêng để bị can không được tiếp xúc với nhau. - Nếu bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì khi tiến hành hỏi cung bắt buộc phải có người bào chữa của họ.Trong những trường hợp cần thiết khi hỏi cung bị can tại Cơ quan điều tra phải có mặt của người đại diện gia đình bị can. Nếu Điều tra viên đồng ý, họ được trình bày chứng cứ, đưa ra yêu cầu, khiếu nại..., Điều tra viên phải giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ trước khi tiến hành hỏi cung. - Khi hỏi cung bị can là người nước ngoài hoặc người dân tộc thiểu số thì ngoài việc tuân thủ những quy định chung về hỏi cung bị can cần phải bắt buộc có người phiên dịch tham gia. Điều tra viên phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch và giải thích cho bị can biết họ có quyền thay đổi người phiên dịch. 3. Giai đoạn kết thúc hỏi cung. Khi kết thúc hỏi cung, Điều tra viên cần hoàn chỉnh biên bản hỏi cung. Điều 132 Bộ luật TTHS quy định: “Biên bản hỏi cung bị can phải được lập theo quy định tại Điều 95 và Điều 125 của Bộ luật này”. Điều tra viên phải lập biên bản mỗi lần hỏi cung, biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Trong trường hợp người bào chữa dược hỏi cung bị can thì biên bản cũng phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và câu trả lời của bị can. Nếu Điều tra viên cố tình thêm bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 300 (tội làm sai lệch hồ sơ vụ án) của BLHS 1999. Nếu hỏi cung gắn liền với sử dụng chứng cứ hoặc tiến hành hỏi cung theo hình thức hỏi và trả lời thì việc lập biên bản được tiến hành đồng thời với việc hỏi cung. Khi lập biên bản, Điều tra viên nghe lời khai sau đó đưa ra những câu hỏi để bị can làm rõ và ghi vào biên bản. Biên bản hỏi cung không được tẩy xóa, sửa chữa, ghi thêm mà không được bị can xác nhận. Biên bản hỏi cung có thể được lập dưới dạng viết tay hoặc đánh máy. Khoản 2 Điều 132 quy định: “nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung, phải phát lại để bị can và Điều tra viên cùng nghe. Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bị can và Điều tra viên cùng ký xác nhận.”. Điều tra viên có thể ghi âm lại lời khai của bị can trong một số trường hợp như: - Khi sao chép lời khai của bị can đã gây ra những vụ án nghiêm trọng. - Khi mô tả và sao chép lời khai của những người không có khả năng đến Tòa án do ở quá xa hoặc do hạn chế về tình trạng sức khỏe. - Khi ghi lời khai của kẻ phạm tội ra tự thú, họ tự nguyện khai báo nên thường khai báo nhiều vấn đề, nhiều tình tiết, ghi âm trong trường hợp này nhằm nâng cao tính khẩn cấp của đối tượng tự thú... Điều tra viên phải đọc lại biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trong trường hợp có bổ sung và sửa chữa biên bản thì bị can và Điều tra viên cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang của biên bản. Trong trường hợp bị can tự viết lời khai thì Điều tra viên và bị can cùng ký xác nhận tờ khai đó. Nếu hỏi cung bị can có người phiên dịch, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can thì người phiên dịch và bị can ký vào từng trang của biên bản hỏi cung, người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can cùng ký vào biên bản hỏi cung. Khi kết thúc hỏi cung bị can, việc nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và sử dụng kết quả hỏi cung là một hoạt động hết sức quan trọng, lời khai của bị can trong mọi trường hợp phải được nghiên cứu, kiểm tra thận trọng. Điều tra viên xác định để đánh giá độ xác thực của lời khai và xác định những tình tiết mà bị can đề cập cần được kiểm tra, xác minh. Việc tiến hành kiểm tra, xác minh lời khai phải được tiến hành kịp thời, khách quan và phải có kế hoạch cụ thể. Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra lời khai. IV. Những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn và hướng khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác hỏi cung. 1. Những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn của hoạt động hỏi cung. - Bộ luật TTHS và pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự quy định cho Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân chỉ được tiến hành một số hoạt động điều tra như khởi tố bị can, lấy lời khai, thu giữ, bảo quản tài liệu, vật chứng, trưng cầu giám định, kết thúc điều tra. Tuy nhiên, trên thực tế, để tiến hành điều tra toàn bộ vụ án sau đó hoàn thành hồ sơ chuyển cho Viện kiểm sát thì việc sử dụng các biện pháp trên không đủ để hoàn thành hồ sơ được mà cần phải áp dụng các biện pháp khác như hỏi cung bị can vì đây là một biện pháp cực kỳ quan trọng để cơ quan Hải quan tiến hành thu thập chứng cứ và tiến hành làm rõ vụ án. - Một số trường hợp khi hỏi cung bị can, người tiến hành tố tụng đã không giải thích hoặc giải thích không đầy đủ quyền và nghĩa vụ cho bị can, để bị can tiếp xúc với nhau dẫn đến tình trạng bị can không xác định đúng đắn trách nhiệm phải khai báo với Cơ quan tiến hành tố tụng, các bị can thông cung với nhau, che dấu hành vi phạm tội của nhau hoặc đổ vấy cho nhau. - Biên bản hỏi cung là một nguồn chứng cứ quan trọng trong quá trình chứng minh (theo Điều 64 khoản 2), song nhiều biên bản hỏi cung ghi không đầy đủ những nội dung theo mẫu quy định, có nội dung ghi trong biên bản hỏi cung bị tẩy xóa, thiếu chữ ký xác nhận của bị can, có biên bản hỏi cung, bị can chỉ ký ở trang cuối, các trang khác lại không ký, do vậy biên bản hỏi cung không đảm bảo tính pháp lý, không đảm bảo đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ như tính khách quan, tính có liên quan và tính hợp pháp. - Do định kiến có ấn tượng xấu với bị can, nhận thức của người tiến hành tố tụng mang tính chủ quan, cho rằng bị can là người đã bị khởi tố về hình sự thì đương nhiên là có tội nên hỏi cung chỉ chú trọng vào việc khai thác làm căn cứ buộc tội, ép bị can phải nhận tội, thậm chí có trường hợp còn không tiến hành hỏi cung bị can mà lại lấy kết quả của những biên bản hỏi cung trước, đó là trường hợp: Ngày 13-11-2007, TAND TP.HCM đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ tư xét xử vụ án tham ô của Đặng Nam Trung - nguyên giám đốc Công ty IDC (thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia). Vụ án được khởi tố từ hơn năm năm trước nhưng vẫn luẩn quẩn trong vòng điều tra, truy tố, chưa xét xử sơ thẩm xong. Đến phiên tòa lần thứ tư bị hoãn để trả hồ sơ điều tra bổ sung, cơ quan điều tra mới ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Tuy nhiên, kể từ khi khởi tố (tháng 7-2007) đến nay, Cơ quan điều tra không hề tiến hành điều tra, hỏi cung bị can mà sử dụng lại toàn bộ những bản cung trước đó để làm chứng cứ buộc tội Đặng Nam Trung. Bị cáo Trung bị truy tố với khung hình phạt cao nhất là chung thân, tử hình nhưng các luật sư không được có mặt khi hỏi cung bị can... Qua việc tìm hiểu vụ án trên ta thấy có sự vi phạm thủ tục hỏi cung trong khi điều tra vụ án, bị can đã bị truy tố với khung phạt cao nhất là tử hình thì luật sư của họ bắt buộc phải có mặt khi tiến hành hỏi cung nhưng trong quá trình hỏi cung bị can lại không có mặt của luật sư. Cơ quan điều tra còn không tiến hành điều tra hỏi cung bị can mà lại sử dụng kết quả của những lần hỏi cung trước để làm chứng cứ cho vụ án. Như vậy là một việc làm vi phạm quy định của Bộ luật TTHS một cách nghiêm trọng. - Về phương pháp: khi hỏi cung, Điều tra viên phải cảm hóa chính trị để giải quyết tư tường cho bị can, tức là lấy đường lối chính trị, lấy chân lý, lẽ phải để giáo dục, thuyết phục bị can, nhằm tạo ra những thay đổi về mặt tâm lý của bị can một cách tích cực để bị can khai báo thành khẩn. Nhưng trong thực tế, nhiều cán bộ hỏi cung đã không cảm hóa, giáo dục, thuyết phục, có trường hợp cán bộ hỏi cung đã dùng lý lẽ giảng giải cho bị can không đúng tinh thần, nội dung, chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đã dẫn đến nhiều điều luật viện dẫn các biện pháp xử lý, dùng tác động của pháp luật để răn đe bị can... Do vậy đã làm cho bị can hoang mang, lo lắng, hoảng sợ... Từ đó bị can khai báo không đúng sự thật hoặc khai báo theo ý chí của người hỏi cung. - Lại có những trường hợp trong quá trình tiến hành hỏi cung, Cán bộ điều tra sử dụng những biện pháp thu thập lời khai một cách trái pháp luật, tác động vào tâm lý, sức khỏe và thể chất của bị can như một số ví dụ sau: + Trên trang web www.laodong.com ngày 07-05-2007 có bài viết “thêm một học sinh bị “hỏi cung” có phản ánh trường hợp của Nguyễn Chí Tâm (sinh ngày 8.12.1991), học sinh lớp 10A8, trường THPT bán công Rạch Gầm - Xoài Mút (huyện Châu Thành, Tiền Giang) vì tò mò nên đã lấy chiếc máy ghi âm mà thầy Hiệu phó đặt lén (trái phép) trong lớp để theo dõi một số thầy cô giáo khác, vì sợ bị ngồi tù như lời thầy giáo dọa nên em đã không dám thú nhận mình cầm chiếc máy mà chỉ nói là biết có người lấy. Chiều 7-4, một cán bộ CSĐT Công an huyện Châu Thành tên Nguyễn Thanh Phong đến trường gọi Tâm và học sinh Ngô Quốc Thống vào phòng hiệu trưởng, rồi đóng kín cửa lại. Theo lời Tâm tường trình, ông Phong đã dọa nạt, chửi thề và đánh vào mặt Tâm nhiều lần làm em ngã chúi xuống đất. Em bị chảy máu răng khá nhiều. Tâm sợ quá nên khai thật và lấy máy ghi âm trả lại ông Phong ngay chiều hôm đó. + Trên trang web www.lamchame.com có bài “Tra tấn lấy cung, 3 công an bị khởi tố”, cụ thể như sau: Cơ quan điều tra đã khởi tố ông Phạm Thế Tân, Huỳnh Thanh Sơn và Lê Quang Gia (công an xã Ea Toh, Krông Năng, Đăk Lăk) về tội cố ý gây thương tích. Hơn một năm trước, họ đã gây ra vụ tra tấn lấy cung, gây thương tích nghiêm trọng ngay tại trụ sở công an xã. Đêm 27/8/2005, hai nhóm thanh niên gây gổ đánh nhau tại tại trung tâm xã Ea Toh. Các ông Huỳnh Thanh Sơn và Lê Quang Gia đến hiện trường, chỉ bắt được Trần Văn Vĩ bị thương nằm tại chỗ. Cho rằng Vĩ giả vờ, Sơn và Gia còng tay Vĩ đưa về trụ sở công an xã để hỏi cung. Suốt nhiều giờ liền, Sơn và Gia thay nhau đấm đá vào bụng và mặt Vĩ để lấy lời khai với sự chứng kiến ông Phạm Thế Tân, Trưởng công an xã. Vĩ gục xuống nền nhà và nôn liên tục, Sơn và Gia mới ngừng tay để ép ký vào bản lấy cung. Công an xốc nách Vĩ kéo ra lề đường (trước cổng trụ sở UBND xã) giữa lúc mưa tầm tã. Trong lúc Vĩ cố lết đến trạm xá gần đó, Sơn và Gia điện thoại báo với Công an huyện Krông Năng là “trong đêm tại xã Ea Toh xảy ra vụ tai nạn giao thông, cần có người vào ngay để xử lý”. Bác sĩ kế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHỏi cung trong tố tụng hình sự.doc
Tài liệu liên quan